Welcome Dang-Van-Nham Website
www.dangvannham.com Ï¿ ޤ󤫡  
Đặng Văn Nhâm
Web Translator
View web pages in other languages:
Video ngẫu nhiên
Bài yêu thích hôm nay

Hôm nay chưa có nhận xét.

Góc nhìn
Bài ngẫu nhiên
Gửi người quen
Võ thuật
Chuyện đề: Danh mục chủ đề
(1) 2 »
Tác giả và Tác phẩm : TÔI ĐÃ ĐƯỢC CỨU SỐNG NHƯ MỘT PHÉP LẠ TRONG CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP TẠI SÀI GÒN NGÀY 9.1.50,!
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 17.01.2010 16:50 (940 lần xem)

TÔI ĐÃ ĐƯỢC CỨU SỐNG NHƯ MỘT PHÉP LẠ TRONG CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP TẠI SÀI GÒN NGÀY 9.1.50,! 

 

  • ĐẶNG VĂN NHÂM

  ( FOTO: HÌNH ẢNH  ĐẶNG VĂN NHÂM, LÚC CÒN LÀ HỌC SINH PETRUS KÝ ĐANG BỊ MẢ TÀ tÂY ĐÁNHY GỤC TRONG CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY 9.1.50, TRƯỚC DINH TRẦN VĂN HỮU ( DINH GIA LONG). LÚC BẤY GIỜ BÁO CHÍ ÂU MỸ, KHẮP THẾ GIỚI ĐỀU LOAN TẢI VÀ SAU NGÀY 30.4.75,  HẰNG NĂM CỨ ĐẾN NGÀY 9.1. nha nuoc CSVN LẠI TỔ CHỨC ĐẠI LỄ KỶ NIỆM CUỘC ĐẤU TRANH KHÁNG PHÁP  HÀO HÙNG ĐẪM MÁU CỦA SINH VIÊN HỌC SINH NAM BỘ...)

 Đôi lời mở đầu: Từ lâu tôi  không còn dịp nào nhớ đến ngày  kỷ niệm  lịch sử  đấu tranh này của giới sinh viên học sinh miền Nam. Cuộc đấu tranh anh dũng chống thực dân xâm lăng của  giới trẻ thời đó , khi đảng CS chưa lộ dạng , đã đóng góp phần công lao và máu xương rất lớn cho cuộc kháng chiến Nam bộ.  Vốn là một học sinh của Lycée Petrus Ký, tôi cùng một số bạn đồng song đã tham gia cuộc đấu tranh này ngay từ những giây phút đầu tiên. Trong cuộc biểu tình vĩ đại ngày 9.1.1950 của lịch sứ đấu tranh dành độc lập cho đất nước  và tự do cho dân tộc, khi tử thần vừa xuất hiện tóm cổ tôi lôi đi, lập tức tôi đã được cứu sống như một phép lạ nhiệm mầu của thượng đế.

 

 Từ đó, tôi nghĩ : có thể trời chưa cho tôi chết sớm, từ lúc mới 17 tuổi đầu, như  học sinh Trần Văn Ơn, để bắt tôi còn phải chịu đựng thêm nhiều gian truân, hãi hùng  và nếm thêm nhiều khổ ải, hiểm nguy trong cuộc sống thiết tha với lý tưởng ?!

 

 

Thế rồi thời gian trôi qua nhanh chóng như bóng câu qua cửa sồ. Thấm thoát nay đã hơn nửa thể kỷ đi vào dĩ vãng với nhiều biến cố trọng đại, và cuốn theo luôn cả những ước mơ của một thằng học trò mặt trắng, tay trơn. Thời gian trên nửa thế kỷ đối với một kiếp người nhiều gian khổ, đầy rẫy hiểm nguy luôn chờ chực, rình rập chung quanh, quả là quá dài và quá não nề, chán ngán.Vì thế cho nên tôi đã quên hẳn  ngày biến cố 9.1.50 của đời mình. Nhưng may sao, nam nay, anh Huỳnh Văn Lang, một bậc huynh trưởng khả kính của tôi ở miền Nam, đã bất ngờ hỏi đến chuyện này, để cho lòng tôi chợt sống lại trong giây lát với tất cà bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân. Tôi đã hồi âm  đến anh. 

Nhưng tôi vẫn còn muốn tạ ơn anh thêm về sự nhắc nhớ của anh, nên tôi đã mạn phép anh mà kể tuột luôn cả những gì đã xảy ra cho tôi trong ngày 9.1.50 và sau đó nữa, để cống hiến anh  chút tâm tình, đồng thời nhân cơ hội này gửi đến các giới bạn đọc trẻ trung ở hải ngoại cùng với các vị học trò cũ của tôi hiện còn sống rải rác khắp nơi trong ngoài nước. Các vị nam nữ ấy năm nay , có người đã đến 70 tuổi và đã con cháu đầy nhà, nhưng vì là thế hệ sinh sau  thời quốc nạn, nên thiết tưởng vẫn cần biết đến phần nào một khía cạnh đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

 

Theo tôi, trong đời của một con người, chẳng một cuộc đấu tranh nào đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng và cao quí cho bằng cuộc đấu tranh vỉ độc lập và tự do của dân tộc và quê hương. Được cơ hội tham gia và dấn thân vào  cuộc đấu tranh thiêng liêng ấy, dù thành công hay thất bại, dù phải xả thân làm muôn mảnh hay xác bị trôi sông cho các loài tôm cua rỉa thịt, ta hãy cứ  mỉm cười hãnh diện…!

 ĐẶNG VĂN NHÂM

 Anh chị Nhâm thân!  

Chúc anh chị và toàn thể gia đình được 1 năm tốt lành và nhiều năm kế tiếp! Luôn tiện xin anh cho biết:

1)    
Vụ trò Ơn xãy ra năm tháng nào? 1950?
2) Trong trường hợp nào?

Cám ơn anh chị! Thân thuong! HvL 

Kính gửi anh Huỳnh Văn Lang thân mến, 

Nhận được E.mail của anh khá lâu, nhưng mãi đến hôm nay mới hồi âm được , phần vì đi xa, rồi từ đầu tháng 1.2010 lại bị cảm cúm, ho liên miên, nên chẳng viêt lách gi được. Thực là tôi  có lỗi với anh rất nhiều.Xin anh vui lòng  thứ lỗi cho.Dưới đây là vụ trò ƠN ( Trần Văn Ơn) mà tôi đã tham gia khi còn là hoc sinh P. Ký, lớp 3eme . Nó bị bắn chết  gục ngay duới chân tôi. Còn tôi thì được cứu sống như một phép lạ…Xin anh  chịu khó đọc thêm đoạn tiếp để biết phép lạ này !Sáng ngày 9.1.50, bọn học sinh Petrus Ký chúng tôi vẫn đến trường như thường lệ. Nhưng khi 3 tiếng trống vào lớp cuối cùng vừa ngưng, chúng tôi lục đục kéo nhau  xếp hàng vào lớp, tôi chợt  nhận thấy trên mặt gạch hoa, lót lối đi trước các cửa lớp  đầy truyền đơn bươm bướm kêu gọi bãi khóa và tham gia cuộc biểu tình “ĐÒI HỎI CHÁNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU PHẢI THẢ HẾT CÁC ANH CHỊ EM SINH VIÊN HỌC SINH ĐÃ BỊ TÂY BẮT VÌ LÝ DO CHÍNH TRỊ”… 

Ngay lúc đó,  lời kêu gọi truyền khẩu  bãi khóa lan đi trong đám học trò chúng tôi nhanh cấp kỳ như một luồng điện mạnh , tạo nên một làn âm thanh xì xào sôi nổi vô cùng về lời kêu gọi bãi khóa và kéo nhau ngay đến dinh  thủ tướng Trần Văn Hữu biều tình…Giữa lúc các giáo sư và giám thị còn đang ngơ ngác  xúm nhau lo bàn bạc nọ kia , thì dưới sân trường, trên bãi cỏ xanh, ngay dưới chân bức tượng đồng của ông Petrus Ky, một số học sinh đã đua nhau bỏ lớp nhào xuống tụ tập hô hào khẩu hiệu kích thích đấu tranh, phát động cuộc  bãi khóa ủng hộ tổng đình công và bãi thị của toàn  thể quân chúng yêu nước chống thực dân xâm lăng v.v…Trong không khi sôi nổi cao độ ấy, tôi và một số bạn học có tình hiếu động, ham thích đấu tranh chính trị cũng nhào vô, hò hét om sòm, rồi cùng rủ nhau kéo sang khu nhà để xe đạp, nơi cửa hông, lối vào khu Dortoir , ký túc xá, dành cho bọn nội trú. Chỉ một thoáng, chúng tôi đã rùng rùng lấy hết xe đạp ra khỏi trường,  kẻ trước người sau nối đuôi nhau như một con rắn dài nhắm hướng chợ Sài Gòn phóng tới.   Khi sắp tới ngã tư Frères Louis ( Võ Tánh) , gần trường  trung học Bác Ái của Tàu ( Lycée Franco-chinois ) tôi và một số bạn đi đầu bắc loa hô hào anh em  lượn qua trước cửa trường này để kêu gọi thêm các bạn học sinh Tàu  tham gia cho đông.Nhưng lúc bấy giờ ban giám đốc trường này thấy biến động chính trị đã vội vàng khóa kín các cổng ra vào, khiến “ NỘI BẤT XUẤT, NGOẠI BẤT NHẬP”…

Chúng tôi cứ thế tiếp tục đạp xe xuống Trần Hưng Đạo ( Đại Lộ Galliénie), tắp vào trường tiểu học Tôn Thọ Tường, để nghe” lãnh đạo” diễn thuyết. Trong đám đông nhốn nháo, giữa không khí vô cùng  ồn ào, sôi nổi  và căng thẳng đến tột độ, tôi nghe tiếng loa cầm tay phát ra từ tầng lầu trên của trường Tôn Thọ Tường có cả tiếng Tây.Tôi nhìn  lên  hướng đó thấy có một người VN đang đưa tay giới thiệu một “ chiến hữu trong đảng CS Pháp” dường như tên là “ Palissade” (?) hay gì đó, mà tôi đã không sao nghe được rõ hơn. Người Tây này  xuất hiện, cầm loa kích thích cuộc đấu tranh, được quần chúng tham gia vỗ tay hoan nghinh quá xá , rồi liền được nhiều người “ công kênh” ông ta xuống đường, đi hàng đầu trong cuộc biểu tình. Bây giờ nhìn lại hàng ngũ anh em  bạn học của tôi  ở trường Petrus Ký, lúc khởi đầu chỉ có một hàng xe đạp dài loe ngoe,  nối đuôi nhau, chưa đầy 200 đứa, vì bọn học trò lớp buổi chiều không tham dự. Nhưng bây giờ thì con số đã lên đến hàng ngàn người, gồm cả những ngưởi  không còn ở tuổi học sinh nữa. Một phần  có thêm sự tham gia của đám học sinh tiểu học Tôn Thọ Tường, cùng với đám học sinh các  trung học tư thục  gần đó  như Nguyễn Văn Khuê, Chấn Thanh, Phan Quốc Quân, cộng thêm một số học sinh trung học tư thục Lê Bá Cang v.v…Dù vậy, bọn học sinh Petrus Ký chúng tôi vẫn được “ ở trên và ở trong” dành cho ưu tiên đóng vai tiên phuông, phóng xe đạp đến trước dinh ông Hữu. Còn đám tháp tùng từ trường Tôn Thọ Tường thì vác  biểu ngữ đi bộ lục đục nối tiếp đến sau. Khi đoàn biểu tình của học sinh đã tụ tập trước dinh ông Hữu và sửa sọan cử đại diện vào dinh  trình  thỉnh nguyện thư…thì lúc đó đã vào khoảng 1 giờ trưa, ngày 9.1. 1950. 

xem tiếp... | Lớn 49689 Bytes | Nhận xét
Tác giả và Tác phẩm : ĐÔI LỜI NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ: ” TẠI SAO PHẢI GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH ? ”
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 22.01.2009 12:20 (598 lần xem)

ĐÔI LỜI NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ:
” TẠI SAO PHẢI GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH ? ”


* ĐẶNG VĂN NHÂM

Open in new window
ĐỖ QÚY SÁNG VỚI ” GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ”

Sau khi vưà trao cho tôi bài” Những vấn đề then chốt nhận định chính trị trong thời điểm Phạm Quỳnh” cuả Đỗ Qúy Sáng, bạn Hồ Công Tâm còn nói thêm:” Nếu anh thấy cần nói thêm điều gì trên báo , tác giả rất hoan ngênh!”. [bài này đã đăng trên Hải Ngoại Nhân Văn , số 31, tháng 10.2001, trang 49-68 và trên Đại Chúng, số 82].
” Được lời như cởi tấm lòng”, nên tôi không ngần ngại gì khi thấy cần phải đóng góp thêm vài ba ý kiến thô thiển. Lần này lại vẫn mong được hải nội chư quân tử chỉ giáo cho những điều sai sót, nếu có.

Thiết tưởng , nếu ai đã đọc qua tác phẩm ” giải oan lập một đàn tràng”, đều nhận thấy, đây là một tuyển tập gồm nhiều bài cuả một số tác giả đã từng quan tâm đặc biệt đến trường hợp Phạm Quỳnh, và với nền văn học nước nhà buổi phôi thai. Như thế, hiển nhiên mỗi tác giả đã tự do trình bày vấn đề Phạm Quỳnh theo sở kiến cá nhân. Nội dung và quan điểm chính trị trong toàn bộ tác phẩm không có tính cách khuôn thước, một chiều. Tính cách ” đại đồng tiểu dị” chính là ưu điểm đáng kể cuả tác phẩm này.

Vì thế, khi phê bình, muốn cho xác đáng, người đọc sẽ không khỏi mất khá nhiều thì giờ để phân tách và tổng hợp những ý kiến tản mạn cuả từng tác giả và cuả từng bài trong quyển sách. Cây viết Đỗ Qúy Sáng đã tỏ ra chịu khó hoàn thành công việc nhiêu khê đó, để dõng dạc nói lên tiếng nói cuả riêng mình, một cách đáng quan tâm.

Trong phạm vi bài này, tôi không có ý nghĩ tranh luận hay biện giải về những điều đã đi sâu vào từng bài và từng tác giả. Cái đúng / sai, hay/ dở, xin được nhường lại cho các bậc thức giả và mỗi tác giả có bài được tuyển chọn trong ” giải oan lập một đàn tràng” [từ đây viết tắt là: GOLMĐT]. Nơi đây, tôi chỉ xin mạn phép được đóng góp thêm chút ý kiến nhỏ mọn về vấn đề chính yếu, độc nhất,bao trùm toàn bộ tác phẩm GOLMĐT là: GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH.

Ngay phần đầu bài, tác giả Đỗ Qúy Sáng đã viết :
- ” ...Tôi thật không khi nào nghĩ Phạm Quỳnh vĩ đại cuả tôi lại có thể mất danh dự cách nào để nay phải phục hồi...( bỏ 5 hàng không cần thiết) Vấn đề tôi đặt ra để tự suy nghĩ là ai đã làm mất danh dự cho Phạm Quỳnh, chứ danh dự ông không thể do ông có những hành vi bại hoại nào làm thương tổn. Hệ quả cuả vấn nạn này là ai có trách nhiệm phục hồi danh dự Phạm Quỳnh cũng như ai có tư cách để làm công tác quan trọng đó...( bỏ 6 hàng không cần thiết) Phạm Quỳnh đâu có hành động nào hạ thấp phẩm giá đến nỗi ông phải xấu hổ về con người cuả ông, những ai đã hạ nhục ông, đã bôi nhọ danh dự cuả ông? Những ai đã giết chết ông lén lút? Nếu vậy họ có trách nhiệm gì và họ có xứng đáng đứng ra giải oan cho ông không. Nếu không, thì chính chúng ta, chúng ta, tập thể những người đang cầm bút viết lối chữ quốc ngữ này mới đúng là những người có bổn phận vinh danh xứng đáng công đức cuả Phạm Quỳnh với nền học thuật nước nhà, bằng những phương cách, biện pháp nào thì nên cùng nhau thẩm định...” ( trích nguyên văn).

Với nhận định chắc nịch” Phạm Quỳnh không có một hành vi bại hoại nào làm thương tổn đến danh dự cuả chính ông”, nên tác giả Đỗ Qúy Sáng đã khẳng khái đặt thẳng vấn đề:” Những kẻ đã hạ nhục, đã bôi nhọ danh dự và đã lén lút giết chết Phạm Quỳnh không có trách nhiệm gì và không xứng đáng đứng ra giải oan và phục hồi danh dự cho Phạm Quỳnh”.

Với một nhận định như thế, dẫn đến chủ trương như thế, dĩ nhiên tác giả Đỗ Qúy Sáng sẽ phải đi đến một thái độ mà ông đã viết ra như sau:
-” Trên quan niệm này tôi ngạc nhiên khi tác giả Đặng Văn Nhâm đòi phải đặt thẳng vấn đề với nhà ” đương quyền VN, gồm các nhân vật lãnh đạo cao nhất nước: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, và Phan Văn Khải [ghi chú thêm cuả ĐVN: Bây giờ là: Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương và Phan Văn Khải].
- Tôi càng ngạc nhiên hơn nưã khi tác giả Đặng Văn Nhâm thúc giục :” Chúng tôi mong sao các nhà chức trách đương quyền ở VN cùng với bộ Văn Hoá, và hội nhà văn VN nên cứu xét lại vụ án Phạm Quỳnh cùng với một vài vụ án oan khuất khác, trong đó có cả Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ v.v...để sớm phục hồi danh dự cho các vị ấy” ( GOLMĐT, trg 24).

xem tiếp... | Lớn 53423 Bytes | Nhận xét
Tác giả và Tác phẩm : ĐÔI LỜI NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ: ” TẠI SAO PHẢI GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH ? ”
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 22.01.2009 12:14 (415 lần xem)

ĐÔI LỜI NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ:
” TẠI SAO PHẢI GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH ? ”


* ĐẶNG VĂN NHÂM


ĐỖ QÚY SÁNG VỚI ” GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ”

Sau khi vưà trao cho tôi bài” Những vấn đề then chốt nhận định chính trị trong thời điểm Phạm Quỳnh” cuả Đỗ Qúy Sáng, bạn Hồ Công Tâm còn nói thêm:” Nếu anh thấy cần nói thêm điều gì trên báo , tác giả rất hoan ngênh!”. [bài này đã đăng trên Hải Ngoại Nhân Văn , số 31, tháng 10.2001, trang 49-68 và trên Đại Chúng, số 82].
” Được lời như cởi tấm lòng”, nên tôi không ngần ngại gì khi thấy cần phải đóng góp thêm vài ba ý kiến thô thiển. Lần này lại vẫn mong được hải nội chư quân tử chỉ giáo cho những điều sai sót, nếu có.

Thiết tưởng , nếu ai đã đọc qua tác phẩm ” giải oan lập một đàn tràng”, đều nhận thấy, đây là một tuyển tập gồm nhiều bài cuả một số tác giả đã từng quan tâm đặc biệt đến trường hợp Phạm Quỳnh, và với nền văn học nước nhà buổi phôi thai. Như thế, hiển nhiên mỗi tác giả đã tự do trình bày vấn đề Phạm Quỳnh theo sở kiến cá nhân. Nội dung và quan điểm chính trị trong toàn bộ tác phẩm không có tính cách khuôn thước, một chiều. Tính cách ” đại đồng tiểu dị” chính là ưu điểm đáng kể cuả tác phẩm này.

Vì thế, khi phê bình, muốn cho xác đáng, người đọc sẽ không khỏi mất khá nhiều thì giờ để phân tách và tổng hợp những ý kiến tản mạn cuả từng tác giả và cuả từng bài trong quyển sách. Cây viết Đỗ Qúy Sáng đã tỏ ra chịu khó hoàn thành công việc nhiêu khê đó, để dõng dạc nói lên tiếng nói cuả riêng mình, một cách đáng quan tâm.

Trong phạm vi bài này, tôi không có ý nghĩ tranh luận hay biện giải về những điều đã đi sâu vào từng bài và từng tác giả. Cái đúng / sai, hay/ dở, xin được nhường lại cho các bậc thức giả và mỗi tác giả có bài được tuyển chọn trong ” giải oan lập một đàn tràng” [từ đây viết tắt là: GOLMĐT]. Nơi đây, tôi chỉ xin mạn phép được đóng góp thêm chút ý kiến nhỏ mọn về vấn đề chính yếu, độc nhất,bao trùm toàn bộ tác phẩm GOLMĐT là: GIẢI OAN VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH.

Ngay phần đầu bài, tác giả Đỗ Qúy Sáng đã viết :
- ” ...Tôi thật không khi nào nghĩ Phạm Quỳnh vĩ đại cuả tôi lại có thể mất danh dự cách nào để nay phải phục hồi...( bỏ 5 hàng không cần thiết) Vấn đề tôi đặt ra để tự suy nghĩ là ai đã làm mất danh dự cho Phạm Quỳnh, chứ danh dự ông không thể do ông có những hành vi bại hoại nào làm thương tổn. Hệ quả cuả vấn nạn này là ai có trách nhiệm phục hồi danh dự Phạm Quỳnh cũng như ai có tư cách để làm công tác quan trọng đó...( bỏ 6 hàng không cần thiết) Phạm Quỳnh đâu có hành động nào hạ thấp phẩm giá đến nỗi ông phải xấu hổ về con người cuả ông, những ai đã hạ nhục ông, đã bôi nhọ danh dự cuả ông? Những ai đã giết chết ông lén lút? Nếu vậy họ có trách nhiệm gì và họ có xứng đáng đứng ra giải oan cho ông không. Nếu không, thì chính chúng ta, chúng ta, tập thể những người đang cầm bút viết lối chữ quốc ngữ này mới đúng là những người có bổn phận vinh danh xứng đáng công đức cuả Phạm Quỳnh với nền học thuật nước nhà, bằng những phương cách, biện pháp nào thì nên cùng nhau thẩm định...” ( trích nguyên văn).

Với nhận định chắc nịch” Phạm Quỳnh không có một hành vi bại hoại nào làm thương tổn đến danh dự cuả chính ông”, nên tác giả Đỗ Qúy Sáng đã khẳng khái đặt thẳng vấn đề:” Những kẻ đã hạ nhục, đã bôi nhọ danh dự và đã lén lút giết chết Phạm Quỳnh không có trách nhiệm gì và không xứng đáng đứng ra giải oan và phục hồi danh dự cho Phạm Quỳnh”.

Với một nhận định như thế, dẫn đến chủ trương như thế, dĩ nhiên tác giả Đỗ Qúy Sáng sẽ phải đi đến một thái độ mà ông đã viết ra như sau:
-” Trên quan niệm này tôi ngạc nhiên khi tác giả Đặng Văn Nhâm đòi phải đặt thẳng vấn đề với nhà ” đương quyền VN, gồm các nhân vật lãnh đạo cao nhất nước: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, và Phan Văn Khải [ghi chú thêm cuả ĐVN: Bây giờ là: Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương và Phan Văn Khải].
- Tôi càng ngạc nhiên hơn nưã khi tác giả Đặng Văn Nhâm thúc giục :” Chúng tôi mong sao các nhà chức trách đương quyền ở VN cùng với bộ Văn Hoá, và hội nhà văn VN nên cứu xét lại vụ án Phạm Quỳnh cùng với một vài vụ án oan khuất khác, trong đó có cả Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ v.v...để sớm phục hồi danh dự cho các vị ấy” ( GOLMĐT, trg 24).

xem tiếp... | Lớn 53126 Bytes | Nhận xét
Tác giả và Tác phẩm : 5.- NHỮNG Ý KIẾN CHUNG QUANH VẤN ĐỀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 06.01.2009 18:22 (430 lần xem)

[2/2].- BÀI CỦA T.S. ĐỖ QUÍ SÁNG: Những vấn đề then chốt nhận định chính trị trong thời điểm Phạm Quỳnh
*T.S. ĐỖ QÚY SÁNG ĐÃ NGHĨ GÌ SAU KHI ĐỌC TÁC PHẨM " GIẢI OAN LẬP MỘT ĐÀN TRÀNG"?

Open in new window( Foto: Chân dung học giả Phạm Quỳnh)
(tiếp theo)

Tôi xin vắn tắt đóng góp ý kiến thô thiển với 4 nhận định trên và không đồng ý với tác giả Nguyễn Hữu Thống trên các căn bản sau:

1. Không thể nào xác quyết với những yếu tố khách quan cuả lịch sử rằng bất bạo động là con đường hữu hiệu nhất để giải phóng dân tộc.

Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta đã từng chứng minh cúi đầu ôn hoà năn nỉ là giải pháp kém hữu hiệu nhất. Nếu nói thời điểm 1919 là bước đi thuận lợi nhất có thể có được thì hãy xét những bối cảnh lịch sử của 1919. Aáy là thời điểm thế chiến thứ 1 kết liễu, toàn quyền Albert Sarraut đọc diễn văn tại văn miếu Hà Nội tỏ lòng tri ân Việt Nam đã gửi 100,000 binh sĩ sang chiến đấu bảo vệ nước Pháp cùng mua quốc trái để chi dùng chiến phí (Rồng Nam phun bạc đánh đuổi Đức tặc!) vậy Việt Nam xứng đáng tiến tới một chế độ lập hiến và tự trị. Albert Sarraut cũng cử người sang Tàu để thương nghị với cánh bạo động của cụ Phan (GOLMĐT, tr. 96). Lúc này đảng Cộng Sản Pháp cũng chưa thành hình nói chi là đảng Cộng Sản Đông Dương. Dẫu rằng Gandhi chủ trương bất bạo động mà mãi tới sau thế chiến thứ hai thì Aán Độ mới được trả độc lập, có chăng lúc đó là sự ra đời đạo luật về “tổ chức chánh quyền Aán Độ năm 1919”. Kinh nghiệm hiện tại về công cuộc tranh thủ độc lập tự trị cuả người Palestine ở Trung Đông cũng như một đảo dân là xứ Đông Timor độc lập khỏi Nam Dương một cách chớp nhoáng mặc dầu nhỏ bé cho ta thấy chiến hay hòa, bạo động hay bất bạo động đều tự nó không tách khỏi bối cảnh ảnh hưởng các áp lực thế giới phức tạp. Phạm Quỳnh thích truyện Kiều, ông thưà biết rõ mẹo “chiến hòa rắp sẵn hai bài” dầu là việc nhỏ như Thúc Sinh mặc cả để mua nàng Kiều từ mụ Tú Bà hà huống là sự tranh thủ độc lập. Tiếc thay “chim lồng không dễ cất mình bay cao” phải là thế đi của Phạm Quỳnh lúc đó nhưng không phải là thế đi của cụ Phan Bội Châu dù ở năm 1919 được. Những người muốn mặc cả phải biết vận dụng các động lực chính trị ấy hết sức linh họat mới tránh khỏi bị lỡ bộ.

2- Không đồng ý rằng cụ Phan đã làm lỡ cơ hội đường lối ôn hòa năm 1919

Cụ Phan không thể rút ngay được bài học Aán Độ để từ bỏ dễ dàng lý tưởng cả đời mình, nhất là còn nhiều đồng chí chưa thể đồng tâm với cụ nếu thực sự cụ đổi theo con đường này. Có chăng là ông Nguyễn Bá Trác làm một bài thơ Hồ Trường rồi rưả tay gói kiếm “hà tất cùng sầu đối cỏ cây”. Ông Nguyễn Bá Trác cũng bị Việt Minh hạ sát năm 1945 tại Qui Nhơn (GOLMĐT, tr. 331). Nền thuộc địa Anh Quốc cũng khác vì tâm địa bọn thuộc địa Pháp có khác, không thể đinh ninh rằng Pháp cũng hành xử như Anh Quốc. Ta cứ xem như trường hợp Algerie, Pháp bám mãi như đỉa cho đến năm 1962 dù ở đấy không có phong trào Cộng Sản khuấy động và dù chính quốc bằng lòng ra đi nhưng Tây thuộc địa quyết không bỏ. Ai chẳng biết Pháp thuộc địa quỉ quyệt nói một đàng làm một nẻo. Những lời nói của Albert Sarraut không nên lấy gì làm chắc để trách cứ cụ Phan. Nếu như Pháp thật lòng muôn tiến tới sự hợp tác và buông tha cho người Việt thì chính sách bạo động của cụ Phan như cá bị tách ra khỏi nước còn kêu gọi được ai. Chính các lời hứa suông này mà Nguyễn Thái Học dù khi còn đi học cũng đã gan dạ đạo đạt đòi hỏi canh cải để cuối cùng phải quay sang bạo động và cũng bị tiêu diệt thẳng tay vào năm 1930. Dầu cho nước Pháp có dạy ta một nền văn minh văn hoá dựa trên giá trị tự do bình đẳng thế nào, thì 20,000 Tây thuộc địa cũng có những mưu mô thâm hiểm và gian ngoan của chúng. Đây là phe “thực dân hạ cấp” như chính ông Nguyễn Hữu Thống đã viện dẫn (GOLMĐT, tr. 101).
Chính đám hạ cấp này dai dẳng không chịu nhả mồi khiến chính sách ôn hòa suốt mười ba năm năn nỉ của Phạm Quỳnh trôi theo dòng nước mà còn đặt ra cả vấn đề minh oan cho ông đến ngày nay.
Ta cũng nên nhớ rằng dân tộc Aán Độ đông đảo hơn ta và có nền văn minh triết lý trừu tượng siêu đẳng và thích hợp với đường lối bất bạo động. Nền văn hoá Khổng học với các gía trị sát thân thành nhân, sĩ khả sát bất khả nhục, và qúa trình bị đô hộ lâu dài của người Việt, sự nhẫn nại theo đuổi chính sách bất bạo động rất khó áp dụng và không có căn bản giá trị văn hóa đối với xã hội ta để được quần chúng hưởng ứng. Mặt khác dầu cho tình bạn riêng tư thân thiết như thế nào, quyền lợi tổ quốc của mỗi bên không chắc đã hy sinh vì tình bạn. Như bài học Phạm Quỳnh đó là tình thân với các bạn Pháp có thể khiến ông được tín nhiệm, không bị nghi kỵ rầy rà làm khó, nhưng không thể nghĩ rằng tình bạn ấy mua được nền độc lập cho tổ quốc khỏi bàn tay của xứ sở bạn mình đang là mẫu quốc! Cái việc trớ trêu mà Albert Sarraut nhắc đến người Việt giúp 100,000 lính đánh cho Pháp cùng tiền bạc ở kỳ đệ I thế chiến, nói ra là cả một niềm tủi nhục cho giới sĩ phu chứ hãnh diện gì. Mất nước để cho người ta khiển dụng trai tráng của mình, tài vật của mình giữ nước cho họ, ta phải nên tức tưởi mới đúng chứ không phải sự đúng đắn khôn ngoan tưởng tượng để làm mất giá trị bi tráng hào hùng của một trang sử và tiền nhân huyết lệ đã qua. Chúng ta cũng không có cơ hội sát cánh với đồng minh như trường hợp Miến Điện, Aán Độ, Phi Luật Tân ở đệ II thế chiến vì một cách giản dị ông Tây thuộc địa cà cộ đã bị ông Nhật phiệt còng tay chân từ năm 1940 (30-8) với hiệp uớc thân hữu Pháp Nhật và sau đó là sự đổ bộ 40,000 quân Nhật vào Nam kỳ theo hoà ước Pháp Nhật Thái Lan ngày 9 tháng 5-1941, mà ông Tây cà cộ thuộc địa phải lo phần cơm gạo dầu đèn do Hiệp ước phòng thủ chung quy định cùng chính phủ “Vichy”, bù nhìn của Đức Quốc Xã. Chính Phủ Pháp lưu vong qua dạng Ủy Ban Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của tướng De Gaulle lại tuyên chiến với Nhật. Tình trạng quá phức tạp cho người Việt Nam xoay chuyển. Cũng có khi nhờ đó dân ta không bị đem đi đỡ đạn Phát Xít Đức ở Aâu Châu. Và vì thế mà ông Tây còn cay cú vòng trở lại Việt Nam không bỏ sau khi Bảo Đại và Phạm Quỳnh tuyên bố độc lập lúc Nhật thẳng tay loại Pháp khỏi quyền hành ở toàn cõi Đông Dương.

xem tiếp... | Lớn 36048 Bytes | Nhận xét
Tác giả và Tác phẩm : 5.- NHỮNG Ý KIẾN CHUNG QUANH VẤN ĐỀ PHỤC HỒI DANH DỰ CHO PHẠM QUỲNH
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 06.01.2009 18:09 (444 lần xem)

[2/2].- BÀI CỦA T.S. ĐỖ QUÍ SÁNG: Những vấn đề then chốt nhận định chính trị trong thời điểm Phạm Quỳnh
*T.S. ĐỖ QÚY SÁNG ĐÃ NGHĨ GÌ SAU KHI ĐỌC TÁC PHẨM " GIẢI OAN LẬP MỘT ĐÀN TRÀNG"?

Open in new window( Foto: Chân dung học giả Phạm Quỳnh)
(tiếp theo)

Tôi xin vắn tắt đóng góp ý kiến thô thiển với 4 nhận định trên và không đồng ý với tác giả Nguyễn Hữu Thống trên các căn bản sau:

1. Không thể nào xác quyết với những yếu tố khách quan cuả lịch sử rằng bất bạo động là con đường hữu hiệu nhất để giải phóng dân tộc.

Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta đã từng chứng minh cúi đầu ôn hoà năn nỉ là giải pháp kém hữu hiệu nhất. Nếu nói thời điểm 1919 là bước đi thuận lợi nhất có thể có được thì hãy xét những bối cảnh lịch sử của 1919. Aáy là thời điểm thế chiến thứ 1 kết liễu, toàn quyền Albert Sarraut đọc diễn văn tại văn miếu Hà Nội tỏ lòng tri ân Việt Nam đã gửi 100,000 binh sĩ sang chiến đấu bảo vệ nước Pháp cùng mua quốc trái để chi dùng chiến phí (Rồng Nam phun bạc đánh đuổi Đức tặc!) vậy Việt Nam xứng đáng tiến tới một chế độ lập hiến và tự trị. Albert Sarraut cũng cử người sang Tàu để thương nghị với cánh bạo động của cụ Phan (GOLMĐT, tr. 96). Lúc này đảng Cộng Sản Pháp cũng chưa thành hình nói chi là đảng Cộng Sản Đông Dương. Dẫu rằng Gandhi chủ trương bất bạo động mà mãi tới sau thế chiến thứ hai thì Aán Độ mới được trả độc lập, có chăng lúc đó là sự ra đời đạo luật về “tổ chức chánh quyền Aán Độ năm 1919”. Kinh nghiệm hiện tại về công cuộc tranh thủ độc lập tự trị cuả người Palestine ở Trung Đông cũng như một đảo dân là xứ Đông Timor độc lập khỏi Nam Dương một cách chớp nhoáng mặc dầu nhỏ bé cho ta thấy chiến hay hòa, bạo động hay bất bạo động đều tự nó không tách khỏi bối cảnh ảnh hưởng các áp lực thế giới phức tạp. Phạm Quỳnh thích truyện Kiều, ông thưà biết rõ mẹo “chiến hòa rắp sẵn hai bài” dầu là việc nhỏ như Thúc Sinh mặc cả để mua nàng Kiều từ mụ Tú Bà hà huống là sự tranh thủ độc lập. Tiếc thay “chim lồng không dễ cất mình bay cao” phải là thế đi của Phạm Quỳnh lúc đó nhưng không phải là thế đi của cụ Phan Bội Châu dù ở năm 1919 được. Những người muốn mặc cả phải biết vận dụng các động lực chính trị ấy hết sức linh họat mới tránh khỏi bị lỡ bộ.

2- Không đồng ý rằng cụ Phan đã làm lỡ cơ hội đường lối ôn hòa năm 1919

Cụ Phan không thể rút ngay được bài học Aán Độ để từ bỏ dễ dàng lý tưởng cả đời mình, nhất là còn nhiều đồng chí chưa thể đồng tâm với cụ nếu thực sự cụ đổi theo con đường này. Có chăng là ông Nguyễn Bá Trác làm một bài thơ Hồ Trường rồi rưả tay gói kiếm “hà tất cùng sầu đối cỏ cây”. Ông Nguyễn Bá Trác cũng bị Việt Minh hạ sát năm 1945 tại Qui Nhơn (GOLMĐT, tr. 331). Nền thuộc địa Anh Quốc cũng khác vì tâm địa bọn thuộc địa Pháp có khác, không thể đinh ninh rằng Pháp cũng hành xử như Anh Quốc. Ta cứ xem như trường hợp Algerie, Pháp bám mãi như đỉa cho đến năm 1962 dù ở đấy không có phong trào Cộng Sản khuấy động và dù chính quốc bằng lòng ra đi nhưng Tây thuộc địa quyết không bỏ. Ai chẳng biết Pháp thuộc địa quỉ quyệt nói một đàng làm một nẻo. Những lời nói của Albert Sarraut không nên lấy gì làm chắc để trách cứ cụ Phan. Nếu như Pháp thật lòng muôn tiến tới sự hợp tác và buông tha cho người Việt thì chính sách bạo động của cụ Phan như cá bị tách ra khỏi nước còn kêu gọi được ai. Chính các lời hứa suông này mà Nguyễn Thái Học dù khi còn đi học cũng đã gan dạ đạo đạt đòi hỏi canh cải để cuối cùng phải quay sang bạo động và cũng bị tiêu diệt thẳng tay vào năm 1930. Dầu cho nước Pháp có dạy ta một nền văn minh văn hoá dựa trên giá trị tự do bình đẳng thế nào, thì 20,000 Tây thuộc địa cũng có những mưu mô thâm hiểm và gian ngoan của chúng. Đây là phe “thực dân hạ cấp” như chính ông Nguyễn Hữu Thống đã viện dẫn (GOLMĐT, tr. 101).
Chính đám hạ cấp này dai dẳng không chịu nhả mồi khiến chính sách ôn hòa suốt mười ba năm năn nỉ của Phạm Quỳnh trôi theo dòng nước mà còn đặt ra cả vấn đề minh oan cho ông đến ngày nay.
Ta cũng nên nhớ rằng dân tộc Aán Độ đông đảo hơn ta và có nền văn minh triết lý trừu tượng siêu đẳng và thích hợp với đường lối bất bạo động. Nền văn hoá Khổng học với các gía trị sát thân thành nhân, sĩ khả sát bất khả nhục, và qúa trình bị đô hộ lâu dài của người Việt, sự nhẫn nại theo đuổi chính sách bất bạo động rất khó áp dụng và không có căn bản giá trị văn hóa đối với xã hội ta để được quần chúng hưởng ứng. Mặt khác dầu cho tình bạn riêng tư thân thiết như thế nào, quyền lợi tổ quốc của mỗi bên không chắc đã hy sinh vì tình bạn. Như bài học Phạm Quỳnh đó là tình thân với các bạn Pháp có thể khiến ông được tín nhiệm, không bị nghi kỵ rầy rà làm khó, nhưng không thể nghĩ rằng tình bạn ấy mua được nền độc lập cho tổ quốc khỏi bàn tay của xứ sở bạn mình đang là mẫu quốc! Cái việc trớ trêu mà Albert Sarraut nhắc đến người Việt giúp 100,000 lính đánh cho Pháp cùng tiền bạc ở kỳ đệ I thế chiến, nói ra là cả một niềm tủi nhục cho giới sĩ phu chứ hãnh diện gì. Mất nước để cho người ta khiển dụng trai tráng của mình, tài vật của mình giữ nước cho họ, ta phải nên tức tưởi mới đúng chứ không phải sự đúng đắn khôn ngoan tưởng tượng để làm mất giá trị bi tráng hào hùng của một trang sử và tiền nhân huyết lệ đã qua. Chúng ta cũng không có cơ hội sát cánh với đồng minh như trường hợp Miến Điện, Aán Độ, Phi Luật Tân ở đệ II thế chiến vì một cách giản dị ông Tây thuộc địa cà cộ đã bị ông Nhật phiệt còng tay chân từ năm 1940 (30-8) với hiệp uớc thân hữu Pháp Nhật và sau đó là sự đổ bộ 40,000 quân Nhật vào Nam kỳ theo hoà ước Pháp Nhật Thái Lan ngày 9 tháng 5-1941, mà ông Tây cà cộ thuộc địa phải lo phần cơm gạo dầu đèn do Hiệp ước phòng thủ chung quy định cùng chính phủ “Vichy”, bù nhìn của Đức Quốc Xã. Chính Phủ Pháp lưu vong qua dạng Ủy Ban Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của tướng De Gaulle lại tuyên chiến với Nhật. Tình trạng quá phức tạp cho người Việt Nam xoay chuyển. Cũng có khi nhờ đó dân ta không bị đem đi đỡ đạn Phát Xít Đức ở Aâu Châu. Và vì thế mà ông Tây còn cay cú vòng trở lại Việt Nam không bỏ sau khi Bảo Đại và Phạm Quỳnh tuyên bố độc lập lúc Nhật thẳng tay loại Pháp khỏi quyền hành ở toàn cõi Đông Dương.

xem tiếp... | Lớn 36048 Bytes | Nhận xét
(1) 2 »
Đăng Nhập
Tên thành viên:

Mật mã:

Nhớ Đăng-Nhập



Quên mật khẩu?

ĐĂNG KÝ thành viên!
DVN - Giờ
Ai đang Online
7 người đang xem (7 người đang xem chủ đề: Chuyên đề)

Thành viên: 0
Khách: 7

xem tiếp...
Counter
Hôm nay: 1218121812181218
Hôm qua: 1174117411741174
Total: 749068749068749068749068749068749068
Việt Nam TV Online
Tìm kiếm
BBC
RFA Radio
RFI Radio
copyright (c) 2007-2008 Đặng Văn Nhâm All right reserved