Welcome Dang-Van-Nham Website
www.dangvannham.com Ï¿ ޤ󤫡  
Đặng Văn Nhâm
Web Translator
View web pages in other languages:
Video ngẫu nhiên
Bài yêu thích hôm nay

Hôm nay chưa có nhận xét.

Góc nhìn
Bài ngẫu nhiên
Gửi người quen
Võ thuật
Chuyện đề: Danh mục chủ đề
-Sưu tầm & Biên khảo : PHẦN I.- THẤT ĐIỀU TRẦN
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 31.10.2009 17:30 (619 lần xem)

PHẦN I.- THẤT ĐIỀU TRẦN  

 của PHAN CHU TRINH 

 

 Đôi lời giới thiệu của ĐẶNG VĂN NHÂM:

 

  Tiếp theo loạt bài kể tội ác đối với dân tộc và tổ quốc VN  của các đời vua quan nhà Nguyễn , kể từ thời Nguyễn Ánh Gia Long chí đến đời  Bảo Đại, một vị vua vô liêm sỉ,  hoang dâm vô độ, cực kỳ  ích kỷ, vung phí  xa hoa máu mủ của dân và tiêu hoang tài sản của đất nước…tôi mạn phép  loan tải tiếp theo bản “THẤT ĐIỀU TRẦN “ này của nhà cách mạng Phan Chu Trinh, một người yêu dân yêu nước. Khi đế chế nhà NGUYỄN còn mạnh, vua Khải Định còn đang ngự trị trên ngai vàng với đủ quyền hành dã man độc đoán đáng ghê sợ của đám vua quan nhà Nguyễn , như tôi đã liệt kê trong loạt bài trước đây, vậy mà  cụ Phan Chu Trinh đã dám  tung ra bản “ THẤT ĐIỀU TRẦN “ này  ngay trên đất Pháp, tại Marseille, giữa chuyến công du của vua Khải Định, cha hờ của Bảo Đại, khiến tiếng nổ vang ầm rúng động cả trời Âu và VN chẳng khác nào quả bom nguyên tử đã nổ tại  Hiroshima…Xin bạn đọc nhàn lãm và dành đôi chút  thì giờ để nghĩ lại thân phận  bi thương của  người dân Việt trải suốt mấy trăm năm bị cùm kẹp dưới ách  nội trị của bọn quan liêu phong kiến và cái gông đô hộ của ngoại bang. Tiếp theo đến bây giờ lại là gông cùm CS  lưu manh, khát máu !...

KỂ TỘI KHẢI ĐỊNH

Tội ác của thực dân Pháp đối với dân VN rất lớn.Âm mưu rất thâm độc. Muốn biến toàn thể dân tộc VN thành những con cừu ngoan, Pháp đã chọn toàn những thứ chẳng ra gì lên làm vua để dễ bề sai khiến và cai trị. Điển hình nhất là Bửu Đảo, tức vua Khải Định, cha hờ của Vĩnh Thụy, tức hoàng đế Bảo Đại. Vốn là một người ” lải cái”, bán nam bán nữ, chưng diện diêm dúa, hoàng bào viền vàng, dát ngọc, đính kim cương, mặt đánh phấn to son như phụ nữ, hai bàn tay đeo đến tám cái nhẫn,ăn tiêu phung phí,lối sống hoang đàng, lại thêm tật đam mê cờ bạc từ thuở thiếu thời. Đã đọc về Bảo Đại trong mấy chương đầu sách, bây giờ đọc thêm” THẤT ĐIỀU TRẦN”, bạn sẽ nhận thấy, tuy Khải Định và Bảo Đại không phải cha con ruột thịt,khác nhau hoàn toàn về nhân dạng, nhưng lại đã giống nhau như đúc khuôn về thói” mặt dầy, mày dạn”, cực kỳ ích kỷ, chỉ biết có tiền, ăn chơi trác táng, xa xỉ, và đam mê cờ bạc v.v…Đặc biệt nhất là hai hôn quân này đều coi dân như con bò sữa, như công cụ,coi đất nước như món hàng để đổi chác với ngoại bang.Riêng Bảo Đại, từ 1954 cho đến khi ông ta nhắm mắt qua đời, dân tộc VN đã trải qua không biết bao nhiêu thảm họa kinh hoàng, nhất là biến cố” THUYỀN NHÂN”( Boat poeple) đã chấn động nhân tâm thế giới, nhưng vẫn không khiến cho Bảo Đại phải nhíu mày !Thiệt là tội nghiệp cho dân tộc VN! Hành động của hai cha con hôn quân ấy đã làm sụp đổ tiêu tan triều Nguyễn, lại còn di hại đến cả một dân tộc, mà ảnh hưởng tồi tệ vẫn còn theo chân bọn tướng tá quan quyền tham nhũng, thối nát ở miền Nam ra tận đến hải ngoại ngày nay…Chẳng khác gì Bảo Đại, Khải Định đã trở thành ông vua bù nhìn trong tầm tay sai khiến của Pháp. Năm 1922, Pháp cho Khải Định sang Ba Lê dự cuộc đấu xảo. Dịp này Khải Định đã làm nhiều trò lố bịch, đến mức nhục quốc thể, khiến cụ Phan Chu Trinh đã phải viết một bức thơ ngỏ lên án một hôn quân vô đạo, phạm bảy tội đáng giết. Bức thư này tên là ” THẤT ĐIỀU TRẦN”, cụ Phan đã viết ở Marseille , đề ngày 15.7.1922. Nguyên tác bằng Hán Văn gửi thẳng cho Khải Định, một bản dịch ra Pháp văn để đăng báo, và in thêm như một thứ truyền đơn để phổ biến rộng rãi trong quần chúng Pháp, tạo nên một luồng dư luận sôi nổi, vang vọng về tới VN.Bản Việt ngữ sau đây, do ông Nguyễn Kim Đính, chủ bút Đông Pháp thời báo dịch. Xin cống hiến bạn đọc để làm tài liệu quán chiếu vào hành động hại dân, hại nước của Nguyễn Văn Thiệu và một số tướng tá thủ hạ sau này.

Đặng Văn Nhâm

 

 

THẤT ĐIỀU TRẦN   

Bệ hạ,

Trinh này sống gặp lúc nước nhà điên nguy, mắt trông thấy cõi đời cái gì cũng đổi mới cả, ham mến cái văn minh dân chủ, giận cái chuyện quân quyền, quan lại thì tham tàn, nhân dân thì thảm hkổ, thấy như thế tôi đau lòng quá, không còn tiếc gì đến thân mình, muốn kéo cái nguy cuộc lại.Năm 1907, tôi đã đưa thơ cho chánh phủ bảo hộ, đòi phải sửa sang một cái chính sách mới, những điều tôi yêu cầu như lập trường học, mở hội làm ruộng, đi buôn, thay cách ăn bận theo lối Âu-Mỹ, những việc tôi đề xướng đó đều ở trước tai mắt mọi người, tưởng cũng chẳng tội gì. Vậy mà chánh phủ Nam Triều lâu nay quen cái thói chuyên chế, chỉ mong sao vinh thân phì gia lấy một mình, thấy ai nói đến cải cách thì ghét như cừu thù, coi nhân dân như cỏ rác, ấy chính là cái mầm cách mạng nổi lên.Năm 1908 xảy ra việc dân biến, những người bị giết, bị tùchết có đến hàng mấy ngàn. Trinh này cũng bị tội chết đày đi hoang đảo. Ôi, nước Nam đứng ở dưới quyền bảo hộ của nước Pháp cũng đã lâu, vậy mà những chính sách hủ bại ấy không thấy cải cách, cái nọc độc chuyên chế đến thế, tưởng nói ra thế giới ai cũng lấy làm lạ lùng! Trong khi ấy nếu không có những bực chí sĩ nhân nhân nước Pháp, thể cái nghĩa bác ái, bình đẳng ghé vai gánh vác cho Trinh, thì cái thân già này còn đâu có đến ngày nay. Trinh sở dĩ còn được chút sống thừa đều là nhờ ở cái văn minh của dân tộc Pháp cả.Năm 1910, Trinh được ra khỏi ngục, năm 1911 Trinh qua ngụ bên Pháp quốc, khảo cứu học thuật, 12 năm trời ở ăn các nước dân chủ, hít thở cái không khí tự do, vì vậy mà biết đặng cái công lý ở cõi đời, hiểu đặng cái nghĩa vụ làm dân,liệu coi thời thế nước nhà ngày nay nếu không mau mau kêu gọi quốc dân dậy, cùng nhau hiệp lực đồng tâm cùng với bọn bạo quan ô lại kia quyết liệt một phen, đem cái ma lực chuyên chế của quân chủ đã mấy ngàn năm nay, nhổ đến tận gốc, lấp cho đầy nguồn,ra tay quét sạch sành sanh, thì quốc dân ta quyết không có ngày nào còn trông thấy bóng sáng mặt trời nữa, tới khi nghe tin bệ hạ lên ngôi đã được 7 năm nay, mà tuyệt nhiên chưa được nghe có cái chính sách gì hay, kiêu dâm càng ngày càng lộng, phạm danh giáo, loạn kỷ cương, biết bao những cái thủ đoạn ngang trái, nắm chặt cái quyền chuyên chế nhà vua, coi thường những luật lệ thưởng phạt nước nhà, đem máu mủ dân để cung vào sự vui sướng của mình, trái cả cái cách của văn minh nhân đạo, ngăn cả con đường tiến bộ của quốc dân, cái đức thúi tha dơ dáy lan khắp mọi nơi, không có ngòi bút nào tả ra cho xiết, xét coi cái chánh thể văn minh lập hiến ở các nước bên Âu-Á, mỗi khi nhà vua có phạm điều gì, quốc dân được phép hỏi tội, dẫu nước ta bây giờ dân quyền chưa có, hiến pháp chưa lập, nhà vua còn nắm cái quyền độc đoán, nhân dân chưa được nghị luận tự do, nếu theo lấy cái đại nghĩa ấy mà làm, thời bệ hạ tất phải chịu những búa rìu của quốc dân gia vào, không thể tha thứ được. nói ra khôn xiết, song bây giờ hãy đem bảy tội mà bệ hạ đã phạm với quốc dân, kể cho rõ ràng, khi bệ hạ nhận được bức thư này hãy nên tỉnh ngộ lại mà tự xử lấy mình.

1.- TÔN BẬY QUÂN QUYỀN.

Bệ hạ từ khi lên ngôi tới giờ thường hay phát ra những tờ chiếu ép nhân dân lại để tôn quân quyền lên, đó là nghĩa gì thế? Nước ta vốn nước sùng thượng Nho học, câu đó chính tự miệng bệ hạ nói ra, vậy thì coi trong đám Nho tôn nhứt là ông Khổng , ông Mạnh,ông Khổng đáp cái câu” Một lời nói làm cho nước thịnh” có nói rằng :” Ta không thích gì làm vua, chỉ sao cho lời ta nói mà không trái thôi”. Ông Mạnh Tử có nói rằng:”Dân quí nhứt, rồi đến xã tắc, còn vua là khinh”. Còn muôn vàn câu nói khác nữa đều cùng một ý ấy.Bệ hạ thử giở các sách Ngũ kinh, Tứ Thơ, ra coi có câu nói nào làm cái chứng tôn quân được không? Vì cái địa vị của mình ở trên muôn người, ấy là cái tinh thần của Nho giáo đó.Nếu không hiểu như thế mà cứ lên mặt hô hào với người trong nước rằng: Phải tôn ta! Phải tôn ta!Ấy là cái đạo sắp phải tiêu mất đó. Xưa vua Kiệt nhà Hạ có câu rằng:” Ta có thiên hạ cũng như trời có mặt trời, khi nào mặt trời mất thì ta mới mất”. Vì thế dân cũng đáp lại rằng:” Mặt trời kia bao giờ mất, ta cùng người đều mất.” Vua Trụ nhà Thương có nói rằng:” Ta sanh có lẽ nào không có mạng tự trời?”. Vì vậy dân cũng đáp rằng:” Trời trông tự dân ta trông, trời nghe tự dân ta nghe.” Ấy là cái chứng quân quyền tự tôn đó. Kết cuộc lại,  một anh thì phải phóng ra nội Nam Sào, một anh thì đầu treo dưới cờ Thái Bạch. Ông Khổng Tử có phê bình một câu rằng:” Ông Thang đuổi vua Kiệt, ông Võ Vương đánh vua Trụ, đều là ứng mạng trời mà thuận lòng người cả.” Ông Mạnh cũng phán đoán một câu rằng:” Nghe giết đứa cô độc là Trụ, chứ chưa từng nghe nói giết vua bao giờ!”Đó chẳng phải những lời thốt ra đích đáng của những bậc chân chánh Nho học đấy ư?! Ngày nay bệ hạ phát ra những lời châu dụ ấy, có phải tự mình phản đối với Nho giáo không? Có ông vua nào tự mình trái với quốc giáo mà lại ngồi trên người ta được lâu dài bao giờ!Ấy nói về học thuyết Á Đông thì như thế, còn nói về học thuyết Âu Tây, thì nước là nước của dân, đặt ra triều đình để chịu phần ủy thác của quốc dân, còn ông vua hay quan tổng thống thì tức là người đại biểu trong một nước cũng như trong một công ty nào có người xếp( chef) vậy.Đã chịu phần ủy thác, đã được hưởng những quyền lợi thì phải làm sao cho đầy đủ cái bổn phận của mình. Nếu không thế thì người trong nước ai cũng được hiếu luật mà giết đi cũng như xử một tên phạm tội kia vậy. Ấy là cái thuyết bình đẳng, tự do là như vậy, mà cái trách nhiệm của mấy người làm đầu quốc dân là như thế. Nếu ai coi nước nhà như một món của riêng mình, thì ví như bọn trộm cướp, còn ai cậy cường quyền mà áp chế nhân dân, thì ví như quân phản nghịch, sẽ đem quốc pháp mà xử trị ngay. Đến ngày nay cái nghĩa ấy đã như mặt trời chói lọi giữa trời, phàm các dân tộc văn minh ở thế giới đều cần dùng nước lửa, lúa gạo, tin cẩn như kim khoa ngọc luật, thuận thì được thịnh, mà nghịch thì mất ngay, các nước lập hiến đều nói theo như thế.. Xưa vua Lô Dịch( Louis) thứ XVI có câu nói :” Trẫm tức là nước nhà!”, thì dân Pháp ai cũng cho là đại nghịch bất đạo, đến nay nhà làm sử chép hãy còn giận chưa nguôi. Cái  ý ấy cũng chẳng khác gì bên Nho giáo, ông Khổng Tử có nói rằng:”Mình ghét những sự của dân muốn, mình muốn những sự của dân ghét, thì tức khắc có tai vạ đến thân ngay.”. Ông Mạnh Tử có câu nói rằng:” Thiên hạ là thiên hạ của thiên hạ” quả thiệt có thế.Ngày nay bệ hạ sanh ở cái nước Nho giáo, làm vua trong cái thế kỷ thứ hai mươi dưới quyền bảo hộ của quân Pháp là nước dân chủ, vậy mà tư tôn mình như thần thánh ngồi trên đầu trên cổ dân mà không biết ngượng ngùng gì, rõ ràng là bội ngịch với cái giáo nghĩa của ông Khổng ông Mạnh, trái với cái văn minh của thế giới, thì không những rằng dân nước Nam này không dung, mà chắc rằng nước Pháp cũng đem lòng giận. Gần đây coi cái thời thế của các nước bên Âu Á như nước Nhật Bản kia vốn là nước đồng văn với ta, bốn mươi năm trước đã đặt ra thứ dân nghị viện, các việc đều do dư luận của quốc dân, nhà vua không được tự chuyên lấy một mình, đến nay thế nước cường thịnh, đứng đầu các nước phương Đông, vậy mà nhân dân còn hiềm rằng quyền vua lớn quá, mấy năm vua Minh Trị về sau, đã một lần thiếu chút nữa bị ám sát, năm trước đây quan tể tướng là Kính Nguyên bị đâm chết, vì cớ ấy nên ngay đến nước Tàu là nước tổ văn minh của ta, hơn mười năm trước cũng đuổi vua đi mà lập thành dân quốc. Các nước bên châu Âu quân quyền cường thịnh cường thịnh nhất không đâu bằng vua nước Nga, thứ đến vua nước Đức, vua nước Áo, tới sau thua một trận lớn rồi, vua Ni Cô lai thứ Hai bị quốc dân giết, cả nhà đều bị chết một cách thảm thê, vua Uy Liêm thứ Hai thì phải trốn qua nước Hòa Lan, còn vua Sa Lư thứ nhứt thì hai lần lén về toan mưu khôi phục đều bị quốc dân đuổi như đuổi heo, rốt lại cũng bị đày chết ở ngoài hoang đảo. Cứ như trên kia đã nói, các ông vua các nước ấy, đều là những người thấy xa nghe rộng cả,  vậy mà dân trong nước còn ghét như sâu mọt, ghê như rắn rít, mỗi khi cử động một cái gì không cẩn thận, thì tự khắc có những lời bao biếm theo ngay, mưu một việc gì không lành, thì tấm thân khó lòng giữ đặng, coi đó đủ biết cái dân trí ngày nay không phải u mê sợ sệt như trước nữa. Nước ta vốn là một nước quân quyền chuyên chế,bao nhiêu chính trị ở triều đình không cho nhân dân được phép hỏi tới nhất là 80 năm trở về sau đây, vua thì dốt nát ở trên, bầy tôi thì nịnh hót ở dưới, hình pháp dữ dội,luật lệ rối loạn, làm cho dân không còn biết sống theo cách nào.Trào vua Gia Long đúng theo luật lệ trào vua Càn Long nhà Thanh là một cái luật chuyên chế bực nhất ở Á Đông này, coi như luật ấy ban ra,quan Đại Tổng Tài Nguyễn Văn Thành là một người khai quốc công thần đệ nhứt mà chỉ vì mấy câu thơ văn nhỏ mọn đến nỗi bị giết cả ba họ, liệt tổ trào Nguyễn hơn hai trăm năm trước dựng nên cơ nghiệp này, công đức cũng đã là lớn lao, vẫy mà con cháu hơn sáu mươi năm sau đây tác tệ ra như thế, đến nỗi diệt vong đều là tự mình gây nên cả. Hình pháp thì như thế, còn về giáo dục thì quá ư đồi bại, trong nước những người đeo lốt sĩ phu mà không biết một chút gì, đến nay thế nước càng ngày càng suy yếu,đến nỗi sụt xuống bậc cuối cùng, nếu không núp ở dưới cờ bảo hộ  của nước Pháp, thì ngày nay không biết đã trụy lạc xuống vực sâu hang thẩm nào. Cứ lấy lẽ công mà luận tội, thì mấy anh ngồi cao đứng đầu tức là mấy anh vua đó, phải phục tội thượng hình, dầu chối cãi cách nào cũng không thoát khỏi, không những rằng quyền vua không tôn được, mà ngay chính cái địa vị vua cũng khó lòng giữ được.Vậy mà cha truyền con nối được đến ngày nay, thì đủ biết rằng cái dân trí bế tắc, thiệt đáng thương lắm. Từ khi bệ hạ lên ngôi, chưa nghe thấy một điều hay nào, mà những điều ác đã inh ỏi bên tai, chạy đầu này mưu đầu nọ để bước lên cái địa vị chí tôn, rồi thì tự coi mình như thần thánh, nết làm như ủy mị; ở ngôi vua mới được bảy năm mà những sự oán vọng của dân ta đã chất chứa đầy bụng, huống chi lại còn chực mượn thói cường quyền để tự tôn lấy mình! Cứ những tội ác ấy, chiếu theo cái luật đối đãi quân chủ ở bên Âu Châu xưa nay thì một là đáng giết, hai là đưởi đi cũng chẳng oan gì. Đó là một tội!

2.- LẠM HÀNH THƯỞNG PHẠT.

Thưởng phạt là một việc lớn trong nước, tánh mạng của dân, giềng mối quan hệ vào đó. Khổng Tử có nói rằng:”Hình phạt không trúng thì dân không còn biết để chân tay vào chỗ nào.” Mạnh Tử cũng có nói rằng:” Trên không đạo theo, dưới không phép giữ, vậy mà không mất là không có”.Chánh thể ngày xưa mỗi khi trao quyền tước cho ai, thì có cả mọi người trong triều đình bằng lòng, làm tội người ở ngoài chợ, thì có cả mọi người đều vừa ý, hai điều ấy nếu không công bằng, thì quốc dân cần cái chính phủ này làm gì! Tôi nghe đích thiệt rằng hiện nay trong triều có mấy thằng ” chó chết” kia đều là bọn cố giao của bệ hạ, ngày trước đã từng phen cùng bệ hạ vui chơi với xóm liễu vườn hoa, dong ruổi các đầu đường xó chợ, tới khi bệ hạ được lên ngôi thì trao ngay cho quyền tước, để ngay vào bên tả bên hữu mình, bao nhiêu người quen thuộc khi xưa đều cất nhắc cho làm quan cả. Lại nghe nói có quan Thị Lang kia, vợ y ngày trước đối với bệ hạ có chút oán nhỏ, bệ hạ vẫn lấy thế làm hiềm, nay được lên làm vua,  thì lập tức báo thù mà cách chức một cách vô cớ, lại có quan Thượng Thư kia, thường hay đem việc riêng của bệ hạ nói với người ngoài, vì cớ ấy bệ hạ buộc vào trọng tội, xử tám năm tội đồ, án đã thành rồi,  sau nghe tin viên quan ấy vốn là một người giàu có, bèn chẹt lấy mấy muôn đồng bạc, rồi tha tội đày mà giáng chức đổi đi chỗ khác. Ấy những việc thưởng phạt đều do ý riêng của bệ hạ chứ chẳng thèm ngó đến quốc pháp là gì. Lại nghe tin ở quanh mình bệ hạ, đều có đặt ra những kẻ trinh thám, có hơn bốn mươi người, sớm tối đi rảo quanh khắp thành thị hương thôn, nghe coi có ai dị nghị mình , thì buộc vào tội, nếu không cũng tìm cách ám hại riêng, vì thế mà những bọn vô lại, mượn thế hoành hành, khách đi đường bảo nhau bằng con mắt, khổ sở biết chừng nào.  Xưa kia vua Lệ Vương nhà Châu vô đạo, sợ người ta nghị luận đến mình cũng lập cách như vậy để bịt miệng dân, rồi rốt cuộc cũng bị quốc dân phân thây ra, bệ hạ há chẳng lấy đó làm gương ư. Đó là hai tội.

3.- THÍCH CHUỘNG NHỮNG SỰ QUÌ  LẠY.

Cái phép lạy quì chẳng qua là cái biểu hiện tôn kính đó thôi, chớ một người ngồi chót vót ở trên, một lũ người áo mũ râu ria phủ phục ở dưới, không những con mắt người ngoài trông vào có vẻ ngượng ngùng, mà lại hèn cả cái tư cách của loài người đi nữa, như thế chẳng qua làm cho kẻ trên càng thêm kiêu căng, kẻ dưới quên cả tủi hổ, thiệt là một cái lễ phép tối dã man. Đến bây giờ đây trong thế giới các nước văn minh, không đâu còn có cái thói như thế nữa, chỉ còn có một đôi chỗ mọi rợ ở miền rừng núi hay miền sa mạc nào còn thế mà thôi.Vậy mà phong tục nước ta vẫn còn chưa bỏ, thiệt là một cái xấu hổ chung cho dân tộc ta. Năm 1906, quan toàn quyền Beau đã hạ lịnh cấm thói ( lạy) ấy, song những bọn quan lại nước ta hãy còn lấy cái đó làm vinh diệu, không chịu bỏ đi, thành ra cái lệnh ấy chưa thi hành được, người trí thức ai cũng lấy làm xấu hổ. Tới khi quan toàn quyền Sarraut đáo nhậm lại sức giấy nghiêm cấm một lần nữa, quốc dân ai cũng lấy làm mừng, duy có bệ hạ còn giữ mãi cái thói mọi rợ ấy, không những không chịu bỏ đi mà lại ham như ăn uống, phô trương như lễ nghi, mỗi khi ở trong triều có làm lễ mừng gì, bệ hạ vênh mày ở trên, các bầy tôi rút đầu ở dưới, rồi lại cho người chụp hình, để truyền bá đi khắp trong nước, đến nay những bức hình ấy không những còn lưu hành trong nước Nam mà đến cả các nước bên Âu Mỹ chỗ nào cũng thấy có. Khi bệ hạ qua Pháp quốc, các quan đại thần tiễn chân đến Tourane, còn làm một cuộc đại lễ nữa.Khi tới bến Marseille cũng vậy. Ôi quì lạy chẳng phải là cái lễ văn minh, ông vua chẳng phải tôn như ông trời, thần dân chẳng phải là một loài nô lệ, bến xe chẳng phải là chỗ miếu đường, bến tàu chẳng phải là chỗ cháo mừng, vậy mà đặt mũ áo xuống bùn than, coi loài người như trâu ngựa,chỉ bày trò cho người nước ngoài khi, và làm mất cả danh dự chung của quốc dân, ai cũng lấy chỗ làm tủi nhục, duy có bệ hạ lại lấy thế làm hãnh diện mà vui lòng làm, nếu không phải là”chí ngu” thì đâu có đến nỗi thế; cực dĩ chí sai người lấy sáp nắn tượng hình những khi triều hạ bày ở trường đấu xảo  Marseille, để khoe khoang với các nước , bệ hạ thì tay cầm hốt ngọc, mình dựa ngai vàng, ngất ngưởng ngồi trên cao, các quan lớn nhỏ thì mặc triều phục, cúi đầu nhắm mắt phủ phục ở dưới, trông chẳng khác gì bầu rái cá, lũ khỉ làm trò, thiệt không biết sự xấu hổ của loài người là gì, các người thức giả Âu Tây trông  thấy đều bụm miệng cười thầm. Về phần bệ hạ đã mặt dầy mày dạn, không biết xấu hổ là gì thì đã đành rồi, nhưng còn nhơ nhuốc cho quốc thể thì sao? Mạnh Tử có nói rằng:” Vua coi bầy tôi như chó ngựa, thì bầy tôi coi vua như khách qua đường; vua coi bầy tôi như cỏ rác thì bầy tôi coi vua như cừu thù”.Bầy tôi còn như thế huống chi về phần dân thì chẳng nói cũng biết rồi. Vậy bệ hạ đối với quốc dân là người thế nào? Là khách qua đường chăng, là cừu thù chăng?Quốc dân nên xử trị bằng cách nào mới đáng? Đó là ba tội.

( còn tiếp 1 kỳ)         



Bài khác
26.02.2010 12:40 - TỔNG THỐNG THIỆU VÀ THỦ TƯỚNG KHIÊM LẬP PHE TRANH NHAU BUÔN LẬU... !!!
09.02.2010 10:30 - CÁC TƯỚNG THIỆU - KỲ- KHIÊM- QUANG... CHỈ HUY TRONG BÓNG TỐI CHIẾN TRƯỜNG BUÔN LẬU BẠCH PHIẾN, MA TÚY!
17.01.2010 16:50 - TÔI ĐÃ ĐƯỢC CỨU SỐNG NHƯ MỘT PHÉP LẠ TRONG CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP TẠI SÀI GÒN NGÀY 9.1.50,!
17.01.2010 16:00 - ( Tiếp theo các kỳ trước ) CÁC TƯỚNG THIỆU-KỲ-KHIÊM...TRANH ĐUA NHAU BUÔN LẬU BẠCH PHIẾN
14.12.2009 05:40 - Các tướng Thiệu-Kỳ-Khiêm lên cầm quyền đã công khai vận dụng đến cả 3 lực lượng Không Quân, Hải quân, và Bộ Binh vào dịch vụ buôn lậu các mặt hàng quốc cấm

Chỉ Thành viên mới được gửi bài và nhận xét.
Người gửi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết của mình!
Đăng Nhập
Tên thành viên:

Mật mã:

Nhớ Đăng-Nhập



Quên mật khẩu?

ĐĂNG KÝ thành viên!
DVN - Giờ
Ai đang Online
12 người đang xem (10 người đang xem chủ đề: Chuyên đề)

Thành viên: 0
Khách: 12

xem tiếp...
Counter
Hôm nay: 914914914
Hôm qua: 2247224722472247
Total: 712225712225712225712225712225712225
Việt Nam TV Online
Tìm kiếm
BBC
RFA Radio
RFI Radio
copyright (c) 2007-2008 Đặng Văn Nhâm All right reserved