Welcome Dang-Van-Nham Website
www.dangvannham.com Ï¿ ޤ󤫡  
Đặng Văn Nhâm
Web Translator
View web pages in other languages:
Video ngẫu nhiên
Bài yêu thích hôm nay

Hôm nay chưa có nhận xét.

Góc nhìn
Bài ngẫu nhiên
Gửi người quen
Võ thuật
Chuyện đề: Danh mục chủ đề
-Phề bình & Bút chiến : LẬT TẨY BỌN XÀI “GIẤY BẠC GIẢ” TRONG VĂN BÁO GIỚI HẢI NGOẠI
Đăng bởi DangHanhThien đăng ngày 26.04.2008 18:10 (331 lần xem)

PHẦN 2.- NHÀ VĂN VÕ PHIẾN CHƠI TRÒ PHỎNG VẤN… CỤI!

(tiếp theo kỳ trước)

Võ Phiến tự mình phỏng vấn mình để mong khoả lấp những sai sót, những hà tì khuyết tật trong việc phê bình toàn bốc thối gà nhà!

VP: Số dư luận được quí báo thu nhận và nêu ra có ba điểm chính. Ba điểm chính cùng chung một hướng: là hướng chê bai cả.
Trong lớp nhà văn tiền chiến người ta nhận thấy phê bình mà chỉ nói đến cái hay có Hoài Thanh, chỉ nói đến cái sai cái quấy là Nguyễn Văn Tố. Cái dư luận quí báo ghi nhận đây thuộc khuynh hướng Nguyễn Văn Tố. Trong điểm chính dư luận thứ hai có lời bảo tôi “đôi khi quá gay gắt” đối với một số người cầm bút. E rằng vẫn chưa bắt kịp xu hướng dư luận đâu: đôi khi gay gắt, so với thuần túy gay gắt, thấm vào đâu.

(a) Câu hỏi gồm 3 điểm. Trước, xin nói về điểm thứ nhất: vấn đề chọn lựa khách quan các tác giả. Trong vấn đề khách quan có nêu trường hợp cụ thể (thơ ít mà được chọn, làm thơ nổi danh lại bị bỏ quên).
Thiết tưởng sự chọn không thể căn cứ vào số lượng tác phẩm. Nếu được thế, công việc sẽ nhẹ nhàng giản dị hơn biết bao: Trước khi chọn, tiến hành một cuộc kiểm kê: ai có bao nhiêu trước tác thơ văn, kẻ ít người nhiều kê khai đầy đủ, có chỗ căn cứ vững chắc, làm việc sai sẩy thế nào được.

Chọn lựa cũng không thể căn cứ vào chỗ “đã thành danh”. Kẻ thành danh là do thiên hạ chọn, không phải ta chọn. Người viết sách phải đích thân chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình.
Tất nhiên nói thế không có ý cho rằng không phải sự chọn lựa vô danh là không đáng đếm xỉa, không phải “thiên hạ” là không đáng kể, chỉ có ta mới đầy đủ khả năng phân định giá trị. Cái danh căn cứ theo dư luận quần chúng, người phê bình không thể không biết đến, không quan tâm đến. Tuy nhiên trong ấy vẫn có những yếu tố cần lưu ý. Chẳng hạn:

— Dư luận có khi tán thưởng kiểu đầu tóc dài bù xù, có lúc thích kiểu đầu trọc lóc; có độ chịu áo cổ cao vạt dài eo rộng, có độ lại ưa cổ hở vạt ngắn, eo thắt; có khi khoái kiểu thơ văn đầy suy tư, dằn vặt, khi khác lại yêu lối thơ tung hê cái giống sỗ sàng v.v... Thời trang, thời thượng, thay đổi thoăn thoắt, từ cái cực đoan này tới cái cực đoan khác, trên mọi địa hạt.

— Dư luận không nhất thiết chọn lựa văn nghệ phẩm theo tiêu chuẩn nghệ thuật. Đa số khách hàng văn nghệ phẩm không đi tìm cái hay, cái đẹp; họ tìm món hàng thích hợp cho nhu cầu của mình. Hoặc nhu cầu giải trí: phim hề, truyện hiệp sĩ kỳ tình, truyện trinh thám, truyện tình lâm ly bi đát, phim bộ Hồng Kông... Hoặc nhu cầu giáo dục, học hỏi v.v... Họa hoằn những chọn lựa ấy mới gặp chủ đích thẩm mỹ của người phê bình.

— Xưa kia dư luận dần dần tự thành. Về sau, ở xã hội công nghiệp có những yếu tố tạo nên dư luận nhanh chóng, ảnh hưởng mạnh mẽ tới dư luận, hướng dẫn dư luận... Chẳng hạn, các hình thức quảng cáo của giới xuất bản, những hoạt động bành trướng thế lực của các nhóm phái, các phe cánh. Một nhà xuất bản có ngân sách quảng cáo lớn, có tạp chí riêng, có đài phát thanh, truyền hình thân hữu v.v... dễ tạo nên tên tuổi, tăng thêm thanh danh cho các tác giả. Còn phe nhóm, từ hồi tiền chiến hai nhóm Tự Lực văn đoàn và Tân Dân đã từng tố cáo nhau mãi về chuyện cạnh tranh quá ráo riết: người cùng nhóm viết ra thì tấm ta tấm tắc tâng bốc nhau, mà gặp văn kẻ khác nhóm thì cứ nhặt từng hòn sạn đãi qua đãi lại, thì chế giễu chịu hết thấu.

Cứ thế, người cầm bút xuất thân ở ngay tại thủ đô văn nghệ, có thân hữu nắm trong tay một nhà xuất bản, tờ tạp chí, viết tới đâu được in tới đó, được ca ngợi inh ỏi, tưng bừng; so với người ấy, một văn hữu tỉnh lẻ hè hụi viết đêm ngày, chép gửi khắp các báo, rồi hồi hộp chờ đợi, một văn hữu côi cút như thế, bảo thành danh làm sao nhanh chóng cho kịp hạng may mắn nói trên.

Thành thử kẻ viết sách tự mình chọn lấy những tác giả mình cho là có tài, tức kẻ viết hay viết giỏi. Bất luận kẻ ấy danh lớn hay danh nhỏ, viết ít hay viết nhiều.

Viết ít mà nên danh, kim cổ đông tây không hiếm. Trong phạm vi một nước ta gần đây, cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh có 46 tác giả thì đã ngót một chục thi nhân chỉ một bài xuất sắc được đưa ra, thậm chí có mấy thi nhân không được trọn một bài hay để trích dẫn. Đoàn Phú Tứ hình như toàn bộ vốn liếng một đời chỉ “dăm bảy” bài thơ. Còn T.T. Kh. ngoài hai bài gửi đến tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy còn có thơ thẩn nào nữa không mà thành thi nhân?

Nhà phê bình làm như thế có thể bị ngờ vực là không “khách quan”, tức chọn lựa theo cảm tình. Cảm tình giữa Hoài Thanh với Đoàn Phú Tứ ra sao, chúng ta không rõ, chứ giữa Hoài Thanh với T.T. Kh. thì chắc chắn là không. T.T.Kh. tuyệt vô tung tích, cho đến ngày nay cũng chẳng ai biết là ai. Trong cuốn Thơ (ở bộ Văn học Miền Nam) của tôi có nói đến vài ba thi sĩ ít có thơ trên sách báo, trong số ấy hai người tôi chưa từng biết mặt, chưa từng quen.

Đã không thấy có động cơ xấu là được rồi. Còn chọn sai, chọn đúng, cái ấy người viết sách lãnh đủ. Anh ta sẽ chịu trận với đời, không trốn tránh đi đâu.

Chọn lựa tài năng nghệ thuật không căn cứ vào số lượng tác phẩm cũng không căn cứ vào tiếng tăm. Chỉ nên căn cứ vào thẩm thức của mình. Thẩm thức người đời thường khác nhau, là cái chủ quan.

Chọn lựa không khách quan, cái viết cũng không khách quan luôn! Về chỗ này tôi cũng lại nghĩ đến thái độ của Hoài Thanh. Cuối cuốn Thi nhân Việt Nam ông tâm sự với độc giả: “Có lẽ bạn đang chờ những bài nghiên cứu vô tư và khách quan. Bạn cũng sẽ thất vọng. Vô tư thì tôi đã vô tư hết sức, nhưng khách quan, không.”

Hoài Thanh lại từng nhỏ to than thở: “Tôi đã đọc tất cả một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở.” Dư luận tha hồ chê ông vụng tính, nên làm lụng cực nhọc. Cặm cụi đọc tới chừng ấy thơ dở thì nhừ xương, chịu sao thấu! Tại sao không xem cứ những vị nào có nhiều thi phẩm xuất bản và đã thành danh thì đưa ngay vào sách: Như thế đỡ tổn hại sức khỏe, lại được tiếng khách quan.

Nếu còn quan tâm nữa đến chuyện khách quan, họa chăng có thể nghĩ đến trường hợp những vị cầm bút mở sách phê bình xem qua loáng thoáng không thấy có những thi sĩ mình ưa thích trong ấy, liền tri hô vào “dư luận”: thiếu khách quan! Nếu có xảy ra trường hợp này thì chính những vị quá tin ở thẩm thức của mình, đòi lấy nó ra làm căn cứ để ai nấy phải theo, chính những vị ấy mới là thiếu khách quan, thiếu nhiều đa.

Cũng nằm trong phạm vi điểm thứ nhất của câu hỏi có vấn đề các tác giả “bị bỏ quên”. Vấn đề ấy trước khi Văn học Miền Nam được in trọn bộ, trước khi quí báo ghi nhận dư luận mà chúng ta đang thảo luận đây, hồi đó chính tôi đã nêu lên, trong “Lời nói đầu” cuốn Truyện I và đã tận tình giãi bày các lý do khiến mình phải làm cái điều sẽ không vừa ý một số người đọc. Lời ấy hoặc không đến được, hoặc không thuyết phục được độc giả, tôi lấy làm tiếc hết sức.

Dù sao, đã có dư luận, không thể ngơ đi mà không bị trách cứ. Vậy đối với vị nào chưa có dịp lướt mắt qua, tôi tha thiết xin hãy vui lòng đọc mấy trang sách từ 506 đến 510 của cuốn Truyện I vừa nói trên đây. Ngoài ra nhân có nhã ý của báo Văn Học mà chúng ta lại được tái ngộ ở vấn đề này, tôi không dám ngại dông dài, mà góp thêm đôi ý kiến.

Thường thường trong sách những cái thiếu không phải sót, những cái đã bỏ không phải vì quên. Vì tình thế chẳng đặng đừng mà thế thôi. Số người tham gia vào hoạt động sách báo càng ngày càng nhiều. ở Việt Nam hồi tiền chiến theo Hoài Thanh có bốn nghìn người có thơ (chỉ riêng thơ thôi, không kể các thể loại khác) đã đăng báo và in sách. Vậy thì tính chung cả giới cầm bút được mấy vạn người? Và ở những nước lớn Âu á số lượng người cầm bút ở mỗi nước là bao nhiêu vạn người, ức người? Kể sao cho xiết! Rồi trong số ấy bao nhiêu kẻ sẽ vào văn học sử? Trong bộ văn học sử Pháp quốc, do Germaine Brée và Edouard Morot-Sir cùng viết về thời kỳ 1920-1975 chỉ thấy đề cập tới 183 tác giả thuộc mọi thể loại. Sót với quên đâu có sót quên lớn lao đến thế? Vậy do đâu?

Trước hết không phải hễ cứ cầm bút là làm văn học nghệ thuật cả. Kẻ kể chuyện tiếu lâm, người viết truyện võ hiệp, trinh thám, để giải trí, kẻ truyền bá võ thuật, người tuyên truyền chính trị, rao giảng đạo lý để giúp người trau dồi sức khỏe và tư cách v.v... Người đời có bao nhiêu nhu cầu, người viết có bấy nhiêu đáp ứng. Đáp ứng nhu cầu tinh thần cũng cần thiết như đáp ứng nhu cầu vật chất, hoạt động cũng tấp nập tưng bừng như nhau. Trên đời không có nghề thấp nghề cao. Các hoạt động nghề nghiệp tạo ra sản phẩm: Sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần đều là món hàng để tiêu thụ, đều quí cả, đều có giá trị cả, nhưng không phải là tác phẩm nghệ thuật. Những người sản xuất tốt, bán nhanh bán nhiều, họ được tán thưởng rộng rãi, yêu chuộng khắp nơi, tên tuổi họ có thể nổi lên ầm ĩ, họ thành danh: chúng ta mừng cho họ. Nhưng gia nhập vào hoạt động văn nghệ, vào giới sáng tác, thì cái đóng góp phải là những dạng vẻ đẹp mới, những quan niệm, những đường hướng sáng tạo mới..., là chuyện những người hành nghề kể trên không quan tâm, biết sao!

Hồi nhỏ đi học, có độ tôi đọc André Maurois. Về sau mấy chục năm, hoàn cảnh sinh sống đổi khác, tôi lênh đênh từ cái thích này sang cái thích khác, quên bẵng tác giả xưa. Một hôm sực nhớ đến, tôi lật sách xem ông mất hồi nào. Trong phần “Từ điển các tác giả” của cuốn văn học sử Pháp vừa nói trên đây không thấy tên ông. Tò mò lật qua phần danh biểu, thấy trong suốt cuốn sách sáu trăm trang tên ông chỉ được nhắc lướt qua 5 lần, tác giả không hề ngừng lại để nhận xét về Ạ Maurois được 1 (một) dòng chữ nào! Tôi bùi ngùi. Ạ Maurois đã viết nhiều, đã có chân trong Hàn Lâm Viện Pháp quốc, đâu phải không thành danh! Ông đã bị xem là không mang đến, không đóng góp được gì thực sự sáng giá cho văn học nghệ thuật chăng? Cái giá trị sáng tạo, cái ấy mới đáng kể. Khổ thân ông.

Trở lại trường hợp mình, tôi không hề dám quên nhiều sót nhiều. Trong bộ Nhà văn hiện đại gồm 5 cuốn, số nhà văn được Vũ Ngọc Phan chọn lựa có tất cả 79 vị; thời kỳ văn học được nói đây dài 30 năm. Trong số 79 vị được Vũ Ngọc Phan chọn, về thể loại thơ có 10 thi sĩ. Trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh — sách chỉ chuyên về một thể loại — số tác giả tăng lên hơn gấp 4 lần, tức 46 vị.

Về phần tôi, tôi chỉ nói về nền văn học ở một nửa lãnh thổ Việt Nam, trong một thời kỳ chỉ có 20 năm. Về thơ, được chọn nói đến là 32 vị, về truyện 50 vị, về ký 22 vị, về tùy bút và kịch 14 vị.

Ấy là chuyện nhiều với ít, đủ với sót, quên với nhớ. Còn về chuyện thành danh so với vô danh cũng không hề thiếu trường hợp để suy nghĩ. Hoài Thanh ngồi viết Thi nhân Việt Nam ngay tại Huế, ông quên thế nào được các tên tuổi như Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng v.v... đang tồn tại bên cạnh mình? Là gạt ra đấy thôi. Ông lại chọn vào danh sách những Tản Đà, Thâm Tâm, kẻ đã qua đời, người chưa có tập thơ nào xuất bản. Cuốn Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942, cụ Ưng Bình qua đời năm 1961, trong ngót hai chục năm cụ không hề lên tiếng phát biểu gì, không góp vào “dư luận” câu thắc mắc nào về cái sót này. Hoài Thanh có thể không thích thơ các cụ, nhưng không thể không kính trọng phản ứng rất thể thống của họ.

Còn Vũ Ngọc Phan? Những tên tuổi như Nguyễn Bính, Chế Lan Viên đã được Hoài Thanh chọn lựa, ông Vũ vứt phăng đi. Ông rước vào cụ Nam Hương Bùi Huy Cường, tác giả mấy tập Thơ ngụ ngôn, tập Văn cười, và ông khen nức nở.

Giả sử bấy giờ có ai vạch kẽ ra chỗ kém cỏi xoàng xĩnh của loại thơ Nam Hương, so với thơ Nguyễn Bính chẳng hạn để “đánh phá” Vũ Ngọc Phan thì chỉ làm đau lòng cho cụ Nam Hương thôi. Nói qua nói lại, chê tới chê lui thơ cụ, sao nỡ. Còn giữa ông Vũ và “ai” kia thì sự tranh cãi qua lại chưa chắc đã tới đâu, đã làm sáng tỏ cái gì. Bá nhân bá ý thôi. Thời gian trôi qua, không ai nói, chúng ta không khỏi phục thầm là dư luận bấy giờ quả tế nhị.

Liên quan tới chỗ thi sĩ thân hay sơ, có danh với không có danh, Hoài Thanh đã từng kêu: “Nhưng ái ngại hay khinh ghét, khi xem thơ tôi chỉ biết có thơ. Tôi không hề nghĩ đến danh vọng của người hay của tôi. Danh vọng quí thật, nhưng còn có điều quí hơn danh vọng, quí hơn hết thảy: lòng ngay thẳng, mà ít nhất cũng phải giữ trọn trong văn chương.”

Ấy là khi đề cập đến sự phán đoán khác nhau. Lại còn trường hợp phán đoán nông nổi: dư luận thích người này, Hoài Thanh thích người khác, thế là dư luận chê Hoài Thanh. Bấy giờ Hoài Thanh van nài: “Muốn hiểu rõ tôi có nói đúng hay không bạn phải xem trọn thơ từng người một. Và phải xem kỹ. Hầu hết những bài thơ hay, có đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấy hay.” Chưa chắc sự van nài ấy được dư luận cứu xét. Người phê bình chọn lựa không hợp với ý kiến với sở thích mình là nêu ngay ra vấn đề công bằng, thiếu sót, thiếu khách quan. Thiết tưởng một thái độ lấy ngay sở thích của mình làm căn cứ, làm cơ sở để đánh giá việc làm người khác, thái độ ấy lẽ ra phải xem là ít khách quan, ít công bằng nhất. Không phải vậy sao?

Kể ra không phải không làm được một công trình không thiếu sót và không chủ quan về nền văn học thời đại mình. Chẳng hạn soạn một tuyển tập các tác giả một thời bằng cách mằn mò kê ra một danh sách thật đầy đủ những ai có tham gia sinh hoạt sách báo, rồi yêu cầu mỗi người gửi đến ban soạn thảo tuyển tập một tiểu sử, với một tác phẩm của mình do mình chọn, với một bài viết về quan niệm văn chương nghệ thuật của mình v.v... Ban soạn thảo cho in tất cả. Công trình thật đầy đủ, thật khách quan. Nhưng đó không phải là một tác phẩm hoặc phê bình hoặc khảo luận gì cả.

Không thuộc vào những thể loại ấy, công trình nọ vẫn quí, vẫn nên làm, nên lưu giữ cẩn thận. Một dấu chân của con khủng long để lại còn quí thay, còn đóng góp được lắm lợi ích cho sự tìm hiểu cuộc sống, huống hồ những tài liệu có giá trị thống kê với nhiều chi tiết cặn kẽ. Tuy nhiên sách nào nên xếp theo thể loại nấy.

Trong việc nào có tính cách thống kê (không có luận có bình), tôi cố gắng làm được nhiều được đủ. ở cuốn văn học sử Pháp quốc nói trên có 183 tiểu sử tác giả, ở cuốn Tổng quan trong bộ Văn học Miền Nam, tôi đã đưa ra ngót bốn trăm tiểu sử (trong bản in lần thứ hai có 371 tác giả; trong bản in lần thứ ba sau này có bổ túc thêm). Trong sách Pháp là nói về thời gian văn học hơn nửa thế kỷ (55 năm) trên toàn quốc; trong sách tôi là về thời gian hai mươi năm trên nửa nước. Vì số phận hẩm hiu của một thế hệ chịu nhiều oan khiên, tôi đã làm chuyện quá đáng; sao có thể “đầy đủ” hơn được nữa mà khỏi thành lố lăng?

(b) Giờ chúng ta sang điểm thứ hai của câu hỏi: khen chê thiếu công bằng. Công bằng, chuyện tưởng dễ nhưng lại khó:
Khen Thúy Kiều chê Thị Nở, không phải không công bằng. Khen Thúy Kiều và khen luôn cả Thị Nở, lại không phải là công bằng. Công bằng là khen kẻ đáng khen, chê kẻ đáng chê (hoặc gay gắt hoặc hay không gay gắt). Vấn đề là biết phân biệt người đáng khen cái đáng khen với kẻ đáng chê cái đáng chê. Phê bình văn nghệ, sự phân biệt chỉ căn cứ vào cái đẹp cái xấu, cái hay cái dở. Vậy đây là vấn đề thẩm thức, không phải vấn đề công tâm. “Dư luận” lẫn lộn hai điều ấy. Khen cái dở cái xấu, chê cái hay cái đẹp, là thẩm định sai, thẩm quan kém; chứ không phải là bất công, thiên lệch gì cả. Chữ “gay gắt” gây cảm tưởng là sự thiếu công bình nhằm vào người không phải vào văn, vào tác giả không phải vào tác phẩm. Không ai “gay gắt” với một bài thơ, có chăng là gay gắt đối với một tác giả thiếu cảm tình, ôn tồn đối với một tác giả thân hữu.

Tôi chân thành xác nhận đối với hai vị đã được nêu tên, tôi tuyệt không có một ác cảm nào. Trái lại. Đối với một vị, trong rất nhiều tác phẩm của bà, tôi chọn nói đến tác phẩm thành công, tác phẩm hay nhất. Và nói đến, chủ yếu là để khen, khen những cái mới cái hay đã được đem đến cho ngành tiểu thuyết bấy giờ, do sự can đảm của tác giả. Còn đối với nhà văn kia, vốn là bậc huynh trưởng có tư cách khả kính, tôi vẫn trọng vọng bấy lâu, và đã tự mình xuất bản một trong những tác phẩm đầu của vị ấy gần 42 năm trước đây.
Cái nào nên khen tôi khen, cái nào nên chê tôi chê, tôi khen chê vô tư, theo trình độ nhận thức của mình, xu hướng thẩm quan của mình. Và bây giờ cũng như về sau tôi không bàn cãi về chuyện này bất cứ liên quan đến một tác giả nào khác. Vì lẽ là chuyện rất không nên đem ra bàn cãi.

Trách tôi gay gắt đối với ông này bà kia, vậy tôi phải cố phơi bày thêm nhiều cái xấu cái dở của họ để biện minh cho mình chăng? ối!

Phàm đã chọn tác giả nào để đưa ra, tìm hiểu, nhận xét trên sách mình, thế là đã yêu thích, đã đánh giá cao tác giả ấy. Lời khen chê thế nào là phải, đến đâu là phải, về chỗ nào là cần: cái ấy mình liệu mà cân nhắc, cái ấy quyết định giá trị của chính mình, không cần biện bạch, không nên biện bạch dông dài khiến có thể gây tổn thương đến văn hữu xa gần.

Ai có kinh nghiệm đều rõ: Đọc sách người hễ gặp được cái hay ho, đắc ý, không gì thú bằng; nói về sách người hễ có dịp nói về những chỗ hợp tình hợp ý mình thì không gì khoái bằng, thì tha hồ hót như khướu, tán rộng huyên thiên, cho thật “đã”. Trái lại khi gặp phải chỗ dở, trái ý mình, không hợp với tạng mình, thì buồn xo, chán ngắt, thì tiu nghỉu như mèo cắt tai. Điều tôi thổ lộ cũng là thiên hạ thường tình thôi. Trên đời, chắc chắn không mấy ai thấy hứng thú khi phải ngừng lại chỗ dở, nêu ra chỗ dở trong văn chương. Phải làm việc ấy, chẳng qua chẳng đặng đừng, chẳng qua là vạn bất đắc dĩ. Chẳng qua công việc nó buộc mình, nhiệm vụ nó bắt mình phải thế thôi.

Viết đã thế, không viết được càng khổ hơn. Mang tác phẩm một tác giả nào về nhà nằm đọc, thoạt tiên là hăm hở. Đọc mãi, càng đọc càng thấy rõ tạng người với tạng mình không hợp nhau. Bấy giờ thật là điêu đứng. Bao nhiêu ngượng ngùng, lo ngại. Tất cả cảm tưởng tội lỗi trút cả lên đầu mình. Đối với những vị thân sơ mà tôi không có cái may mắn cùng nhau cùng gặp được trên một quan niệm thưởng thức văn chương, tôi rất lấy làm tiếc, tiếc vô cùng.

(c) A! Điểm dư luận này càng rõ là nặng tính giáo dục: Lối viết không thích hợp? Sách lý luận, biên khảo phải có lối viết khác?
Các điểm trên nêu ra những vần đề thể loại, tiêu chuẩn, tư cách (khách quan, chủ quan,) v.v..., tức những bắt bẻ về nội dung. Giờ là bắt bẻ lối viết, tức chuyện hình thức đây.
Hai chữ “lối viết” không rõ nghĩa. Tôi đoán chừng là chỉ vào lời văn chăng. Đại ý cho rằng sách lý luận biên khảo thì lời văn phải nghiêm chỉnh đứng đắn mới là thích hợp, còn thứ lời lẽ tôi đem ra dùng đây là dùng lộn rồi chăng.
Đoán vậy, hãy cứ tạm trả lời vào cái mình suy đoán thôi; chờ hỏi lại dư luận, biết hỏi vào đâu!

Tôi quả thật chưa được biết viết sách gì thì phải dùng lối viết nào mới là chính thức thích hợp, dùng lối nào thì sai. Phép tắc làm việc thì vẫn có đấy. Thợ máy, muốn mở mỗi loại con ốc phải dùng mỗi loại “lắc-lê”; không thích hợp đố mở được. Ngày xưa, làm văn ở chỗ trường ốc phải đúng lối: kinh nghĩa, chế, chiếu, biểu, thơ, phú, văn sách..., món nào có chỗ dùng nấy, không thích hợp không được.

Nhưng ấy là chuyện khắt khe trong giới hạn thi cử của một thời đã qua. Còn đối với giới cầm bút nói chung mọi nơi mọi thời, trên mọi thể loại, không nghe có sự ràng buộc như thế bao giờ. Sách tôi, đại khái có liên hệ với phê bình và khảo luận, qua loa thôi, nhẹ nhàng thôi. Về phê bình chúng ta đã biết qua giọng văn của Thánh Thán. Thánh Thán là người có cá tính mạnh mẽ; văn ông bản sắc nổi bật lên rõ mồn một không thể lẫn lộn với “lối viết” của ai cả. Thánh Thán bất luận khi viết về rửa ghẻ, về cởi sợi dải thắt lưng, hay về phép trước tác văn chương, đều thoải mái như nhau. Về khảo luận, tôi nghĩ tới Vương Hồng Sển. Vương ông có ý thức về văn phong đặc biệt của mình. Ông cười cợt, đùa giỡn trên trang sách; ông viết như ông nói, như trò chuyện trong chỗ thân tình. Sách ông viết xuất bản đã nhiều, phổ biến rộng rãi, tôi bất tất dông dài. Vương ông phân bua: ông “không thích giọng nghiêm”. Cái giọng văn “không nghiêm” của ông, ông gọi nó giọng “bông thùa”, tức cũng như là giọng cà-rỡn. Ông bảo trong Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn: “Cứ để bông thùa, như vậy mà được nhẹ nhàng, mà dễ cởi mở với nhau.” Con người có giọng văn “bông thùa” là người như thế nào? — Là một người đã làm việc với nhân viên và học giả trường Viễn Đông Bác Cổ, đã từng làm Giám đốc viện Bảo tàng, từng giảng dạy ở đại học, và đã cầm bút đến tuổi chín mươi, râu tóc bạc phơ. Vậy thì tôi đòi ra vẻ nghiêm chỉnh đạo mạo hơn ông làm chi, hỡ trời!

Viết bình viết luận, hãy lo viết đúng, lo chi đến cái viết cho nghiêm. Lời lẽ trịnh trọng, nghiêm chỉnh rất mực, mà nói đâu sai đó thì có gì hay?
Vả lại chẳng những tác giả viết luận với bình được bông thùa, mà một nhân vật cao hơn Vương Hồng Sển, hơn Thánh Thán, cao tít mù, là Trang Tử, cũng không hề tự ghép mình vào phép tắc nghiêm túc đâu. Điều Trang Tử viết ra cao hơn cái luận cái bình nghìn lần vạn lần. Ông đâu thèm bình về cái văn của anh nọ chị kia, của người này người nọ; ông đâu thèm khảo luận về nền văn chương học thuật này nọ. Ông nói là nói về lẽ sinh tử ở đời, về lẽ vận hành của vũ trụ càn khôn v.v... Vậy mà giọng ông phóng túng biết bao. Ông kể những cái hoang đường, tưởng huyễn mà thực, tưởng thực mà huyễn; ông dùng ngụ ngôn, trùng ngôn, lại dùng chi ngôn, chuyện thì huyễn hoặc mà ý cao thâm tinh tường... Triết học là chuyện trang nghiêm quan trọng; giọng viết triết học Trang Tử thiếu hẳn tính thích hợp chăng?

Vào thời kỳ xảy ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm, trên báo Nhân Văn ông Như Mai có đưa ra nhân vật Nghiêm Văn Túc, trên báo Giai Phẩm Mùa Thu ông Trần Lê Văn có đưa ra nhân vật Lê Hùng Tiến, rất hi vọng có lối phát ngôn thích hợp. Nhân vật Lê Hùng Tiến được mô tả “người anh khô đét lại, thẳng đờ như một cái áo quan, mắt chỉ biết trợn chứ không biết nhìn (...) hai hàm răng xít lại, dù có cạy cũng chẳng ra một nụ cười”. Thế thì bông thùa thế nào được, bảo đảm trăm phần trăm: khảo bình tha hồ nghiêm túc, giọng văn tha hồ thích hợp.

Đến đây, tôi giật mình. Đáp lời phỏng vấn của quí báo, giọng tôi ban đầu dè dặt ôn tồn, dần dần tự nhiên đổi ra thân mật, rồi sau lại chuyển thành bông thùa, suồng sã. E không còn thích hợp nữa chăng. Vậy nên kết thúc cho kịp thời.

Vả lại dù là lịch sử văn học, hay biên khảo văn học hay phê bình văn học... là gì nữa, thì sách viết ra cũng để dùng một thời thôi. Rồi sách sẽ bị vượt, sẽ có sách khác thay thế, kế tục. Sách sử quan trọng của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên..., ra đời; sau đó bao nhiêu sách lịch sử khác kéo nhau tiếp tục không ngừng. Mãi vẫn còn phải tìm hiểu thêm viết thêm, còn lâu mới đủ sáng tỏ mọi điều: các vua Hùng có hay không có? mỗi vua sống được mấy trăm năm? vú bà Triệu ẩu đích thực dài đúng mấy thước? v.v. và v.v... Sử ký Tư Mã Thiên là sách quí tuyệt vời. Sau nó, lịch sử Trung Quốc vẫn phải viết đi viết lại mãi. Mỗi khai quật di chỉ đưa ra ánh sáng một cái mới, mỗi quan niệm sử quan xuất hiện đưa ra một cách nhìn khác về quá khứ v.v... Tác giả cứ đeo theo tác phẩm của mình để bênh vực nó, có làm mãi được đâu. Tác giả lẽo đẽo làm vệ sĩ cho tác phẩm mình là cảnh lố bịch.

Vừa rồi là nói chung về số phận của sách xưa nay. Sách tôi đâu được vậy. Sách tôi, tệ hơn nhiều. Sách, ngay khi mới viết đã chậm trễ: quan niệm phê bình trong ấy so với trào lưu mới trễ gần một thế kỷ. Giới phê bình chuyên nghiệp không khỏi cười cho. Vậy tại sao tôi không viết theo...kiểu mới? — ối, tôi mà viết Phê Bình Mới (hay viết theo bất cứ một trường phái phê bình nào cấp tiến hơn)! Tôi mà chạy việt dã trên cánh đồng Phê Bình? Những ông Đặng Tiến, Nguyễn Hưng Quốc... sẽ lăn ra cười ngất. Tôi đã quá quen thuộc, thấm nhiễm thẩm quan một thời qua, tim óc đã dính liền với một cung cách thưởng thức văn chương của thế hệ mình rồi. Uốn nắn làm sao được nữa. Vả lại bản tâm mình chỉ muốn gợi lại một nền văn học mất tích đã mang theo nhiều kỷ niệm thân thiết của mình; sở học tới đâu mình làm tới đó, thời đại nó đã uốn mình theo hướng nào mình làm theo hướng nấy thôi. Đua đòi bôi bác, không nên. Còn như chờ mình tự đổi mới theo đúng kiểu rồi mới bắt tay vào việc thì còn thì giờ đâu nữa. Thôi thì cái mới sẽ có người mới làm. Lo gì!

Huống chi sách mình số mệnh đa đoan. Mười bốn năm trước, nghe hình như đã có gã vô danh nhảm nhí nào đó phát ngôn vu vơ, đại khái : “Thi phú làm ra để vịnh hoa xuân lá thu, vịnh cây quạt cây đa... thơ phú ấy nếu hay thì được truyền tụng nếu dở sẽ bị vất đi là rồi. Còn như viết cái gì có liên quan đến kẻ khác, có chê khen người nọ người kia, thì bị mắng mỏ tưng bừng là cái chắc.” Chỉ viết ra đã thế, lại còn đeo theo lải nhải, nhất định càng nhảm nhí hơn.

Bởi vậy thiết tưởng nên dừng nơi đây. Đối với quí báo, xin cảm tạ hảo ý đã cho cơ hội bộc bạch. Đối với riêng mình, tôi nhân dịp này có lời tự nhủ. Nhủ rằng:

“Kiếp sau chớ khảo chớ bình
Làm cây Dư Luận chình ình (giữa) thế gian.
Tha hồ quậy dọc quơ ngang.”

Võ Phiến
4-2000




Bài khác
01.04.2010 20:00 - BÀI HAI.- ”PHẢN PHÁO TRẬT LẤT” CỦA LỮ GIANG HAY ” THẰNG GÙ TỰ LẬT TẨY SỬ SẠO GIA”?!
31.03.2010 18:50 - CỰC LỰC PHẢN BÁC NHỮNG VU KHỐNG MẠ LỴ TƯỚNG ĐỖ MẬU CỦA 2 ÔNG TRAN LUC THU VÀ NGUYỄN QUANG
28.03.2010 16:50 - PHẢN PHÁO TRẬT LẤT” CỦA LỮ GIANG HAY ” THẰNG GÙ TỰ LẬT TẨY SỬ SẠO GIA”?! -
27.03.2010 17:30 - ”PHẢN PHÁO TRẬT LẤT” CỦA LỮ GIANG HAY ” THẰNG GÙ TỰ LẬT TẨY SỬ SẠO GIA”?!
19.03.2010 16:20 - ÔNG BÀ Đ.T. THỦ TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM VÀ NHỮNG CHUYỆN THÂM CUNG BÍ SỬ

Chỉ Thành viên mới được gửi bài và nhận xét.
Người gửi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết của mình!
Đăng Nhập
Tên thành viên:

Mật mã:

Nhớ Đăng-Nhập



Quên mật khẩu?

ĐĂNG KÝ thành viên!
DVN - Giờ
Ai đang Online
4 người đang xem (3 người đang xem chủ đề: Chuyên đề)

Thành viên: 0
Khách: 4

xem tiếp...
Counter
Hôm nay: 5353
Hôm qua: 3338333833383338
Total: 765333765333765333765333765333765333
Việt Nam TV Online
Tìm kiếm
BBC
RFA Radio
RFI Radio
copyright (c) 2007-2008 Đặng Văn Nhâm All right reserved