BÀI 3 (tiếp theo).- PHẬT GIÁO HÒA HẢO, MỘT TÔN GIÁO MANG ĐẬM SẮC TÍNH ĐỊA PHƯƠNG, RA ĐỜI TRONG CƠN KHÓI LỬA! - ĐẶNG VĂN NHÂM (cựu hội viên hội Nghiên Cứu Đông Dương/ Socíeté des Études Indochinoises)
VƯỢT THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN ĐỂ TRỞ THÀNH BẤT TỬ! Theo tôi, con người muốn trở nên bất tử phải tạo được một cái danh có gía trị vượt thời gian và không gian. Cái danh ấy ví chẳng khác nào một vệ tinh đã được phóng từ mặt đất lên không trung, vượt qua khỏi hấp lực của bầu khí quyển, để từ đó thong dong mãi trong không gian vô tận. Trong thế giới loài người, từ cổ chí kim, không mấy ai đã trở nên bất tử. Nếu trong lãnh vực tôn giáo , văn học, nhân loại đã biết đến những đại danh bất tử như: Thích Ca, Jesus Christ, Không Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mohamet, Socrate, Platon, Diogène …, về khoa học có Albert Einstein, Darwin v.v… Riêng trong phạm trù đất nước và dân tộc VN nhỏ bé, với trên 80 triệu dân, chúng ta cũng có một Nguyễn Du đã trở nên bất tử trong lãnh vực thi ca, văn học. Về mặt tín ngưỡng, chúng ta đã có một vị giáo chủ tên Huỳnh Phú Sổ, người đã có công khai đạo PGHH tại miền Tây với trên 8 triệu tín đồ trung kiên. Nếu trước đây trên 2 ngàn năm, thầy giảng ( Rabin) Do Thái, tên Jesus Christ đã không bị quân xâm lăng La Mã xử tội nhục hình đau đớn vô tả, đến giây phút cuối cùng ngài còn phải phơi thây trên cây thánh giá vì tư tưởng cách mạng đã rao giảng bằng tình thương bao la, thì làm sao cái tên tầm thường cuả chàng thanh niên Jesus Christ được trở thành bất tử ? Cũng một cách như thế, nếu năm 1947 chàng thanh niên làng Hòa Hảo, của miền Tây Nam Bộ đã không dấn thân vào đời, rao giảng đạo tứ ân hiếu nghĩa và không nuôi chí lớn chống ngoại xâm và cứu dân sớm thoát khỏi vòng xiềng xích sắt máu của CS, nhất là ngài đã không “biệt tích” giữa tuổi thanh xuân…thì làm sao cái tên Huỷnh Phú Sổ bỗng trở nên chói lòa như một vì sao Bắc Đẩu và liệt vào hàng bất tử trong tâm hồn dân tộc VN!?! Vì vậy, mãi đến bây giờ tôi mới viết về Huỳnh Phú Sổ, vị giáo tổ khai sáng đạo Phật Giáo Hoà Hảo chẳng phải là một việc làm mới mẻ gì. Trước tôi cả chục năm, nhiều người đã viết về ngài. Mỗi người biểu diễn một kiến thức và một quan điểm khác nhau. Song, tựu chung, chẳng ai dám phê phán hay mổ xẻ rốt ráo một điều gì về mọi mặt. Tại sao lại có tình trạng quái đản như thế, giữa lúc các tôn giáo khác cùng một dạng thức như đạo HH, phát sinh cùng thời, cùng cảnh ngộ lịch sử, và hoạt động cùng trên một giải đất miền Nam lại tỏ ra tự do, phóng khoáng vô cùng. Thí dụ dễ kiểm chứng nhất là đạo Cao Đài ( gồm nhiều chi nhánh: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Bến Tre, Cao Đài Long An, Cao Đài miền Trung…), từ năm 1945 đến nay đã được nhiều nhà trí thức nổi danh đem ra bàn luận. Trong khi đó, ngược lại, PG Hòa Hảo, ngọai trừ một vài nhân sĩ ưu tú trong giáo hội đề cập đến trong sách của họ. Kỳ dư, thiếu hẳn cái nhìn vô tư của các giới nghiên cứu tôn giáo, chính trị và văn học trên tòan quốc. Tại sao? ( Foto: Đặng Văn Nhâm và Tiến sĩ lê Phước Sang, viện trưởng viện đại học Hòa Hảo,cựu thẩm phán, dân biểu, nghị sĩ, tổng bộ trưởng, đương kim Hội Trưởng giáo hội trung ương PGHH chính truyền, đôi bạn thâm giao từ thuở học trò cho đến nay vẫn không rời nhau trong mọi lãnh vực công và tư...). Dĩ nhiên các nhân vật lãnh đạo PGHH thông minh, không ít thỉ nhiều, đều đã ngầm biết những nguyên nhân tiêu cực tai hại ấy. Nhưng dường như chính bản thân các vị ấy cũng phải e ngại , dè dặt khi muốn nói lên những nhận định xác đáng, có tính cách tiến bộ hay khai phóng của mình. Bởi, ngay từ khi mới lập đạo, cách đây trên 71 năm, giáo hội PGHH đã để lộ ra một số khuyết điểm đáng kể về mặt kỷ cương và tổ chức. Điều này bạn đọc sẽ tìm thấy trong một chương sau của sách này….
CHIẾN TRANH VÀ TÔN GIÁO Vậy, bây giờ tôi mất công viết về giáo chủ Huỳnh Phú Sổ chẳng phải để góp thêm vài tiếng vỗ tay lộp độp, lạc lõng, cuối mùa, giữa hí trường của cuộc đời bát nháo này, đúng theo thâm nghĩa của câu ca dao” Lạy trời cho nổi gió lên, cho mảnh tã rách lên trên quần hồng!”. Trước họat cảnh “ sâu bọ lên làm người” sau ngày 30.4.75, và nhất là hiện trạng giá trị con người đã bị đổi ngôi hòan tòan ở hải ngọai càng khiến câu ca dao trên càng thêm thấm thía. Trong hòan cảnh tị nạn nghiệt ngã như thế tôi dễ tiên liệu được những tai họa bất ngờ, khó tránh, có thể sẽ do bọn nghiệt súc “ cư sĩ tại gia” và “Thiện Nam của nhà Phật” (sic!) ở hải ngoại giáng xuống đầu, để phá hoại công trình nghiên cứu, suy tư của tôi về một tôn giáo có tính cách thuần túy dân tộc. Tuy nhiên, dù trước nghịch cảnh óai oăm như thế, tôi vẫn cứ dấn thân.Vì tôi đã ý thức được việc làm này có thể giúp cho các giới tín ngưỡng VN, phần đông còn quá u mê, dễ lầm lạc trước bọn lưu manh chuyên sống nhờ cái vỏ “ TU HÀNH” và rất sợ hãi trước những chuyện hoang đường nhảm nhí chứa đầy rẫy trong các kho tàng kinh điển của các tôn giáo ngoại nhập. Bằng chứng hùng hồn nhất và tồi tệ nhất là những bộ kinh Đại Thừa của Phật giáo Bắc Tông. Ngòai ra các giới đồng bào độc giả tiến bộ ở hải ngọai còn có thể biết phần nào các vấn đề trong lãnh vực văn học và tôn giáo, dù đã xa xôi hay đã cũ mèm từ hàng ngàn năm trước, như truyện ái ân giữa Chúa Jésus và bà Madeleine. Chuyện này cho đến nay vẫn còn nhiều khám phá mới nhắm bổ sung cho sự hiểu biết của nhân loại. Cận đại hơn là tổ chức bí mật “Hội Tam Điểm” (Maconnerie). Trải mấy trăm năm, nhiều khám phá đã được công bố, nhưng vẫn chưa cạn đề tài khai thác…Vì bên trong các tôn giáo nào cũng vậy, vẫn luôn luôn giấu nhẹm một số bí ẩn mà người đương thời không được quyền biết đến, phải chờ cho tới khi « vật đổi sao dời « sự thật mới lòi ra ánh sáng ! Kể từ sau cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 cho đến tận ngày nay, nếu chịu khó quan sát, ai cũng thấy cuộc chiến tương tàn và chống ngoại xâm dai dẳng suốt nửa thế kỷ qua đã huỷ hoại tan hoang đất nước. Tuy nhiên những đổ vỡ vật chất ấy dân tộc ta thừa khả năng tu bổ. Nhưng, những huỷ hoại về mặt tinh thần, tình cảm và đạo đức của con người mới đáng cho ta bận tâm lo lắng. Kiểm chứng ngay trong thực trạng sinh sống hằng ngày của người VIỆT NAM, ai cũng phải đau lòng nhận thấy những hiện tượng nổi bật như sau: gian tham, sảo trá, lường gạt, trấn lột trắng trợn đã trở thành tiêu chuẩn ưu tiên. Lương tâm, danh dự và liêm sỉ đã bị phá sản hoàn toàn. Bây giờ, trong cuộc đối nhân xử thế, chẳng còn ai dám đem Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ra mà xử sự, dù với người ruột thịt. Mọi người đều phải giữ miếng và giữ ý với nhau từng li từng tí, để tránh mắc bẫy, khỏi bị lừa! Trong thảm trạng sa đoạ, đồng tiền lên ngôi thượng đế quyền lực vạn năng, còn nhân nghĩa chỉ là tờ giấy vệ sinh. Tình yêu thiêng liêng cao quí đã hoá thành món hàng mua bán công khai: ”Thiên kim mãi đắc tam phân nhục, Lưỡng tộc nghinh hồi nhất bả mao!” [Nghìn lạng vàng mua được ba phân thịt, Hai họ rước về một dúm lông!]. Tôi nói như thế không ngoa chút nào và cũng chẳng lạc đề. Bởi bất cứ một chủng tộc nào, dù tinh thần thanh cao đến đâu, nếu lâm vào cảnh nghèo đói và bị đại họa chiến tranh tàn phá lâu dài, tất nhiên không sao tránh khỏi tình trạng sa đọa lương tri và liêm sỉ. Bây giờ nếu cần dẫn chứng cụ thể, thiết tưởng không gì hay bằng chúng ta hãy cùng nhau nhìn sâu vào cuộc sống tinh thần của các dân tộc Hồi Giáo ( Islam) trên khắp thế giới. Nên biết , khi tôi nói Hồi Giáo tức không phải chỉ nhắm vào các sắc dân Ả Rập (Arabe) trong vùng Trung Đông. Bởi trên thế giới còn có nhiều dân tộc không thuộc chủng Ả Rập, nhưng tuyệt đại đa số quần chúng đều theo đạo Hồi như : Nam Dương (Indonésia), Tây Hồi (Pakistan), Mã Lai ( Malaisia) v.v…Đặc tính nổi bật nhất của đạo Hồi là tôn trọng tiết trinh của người phụ nữ. Nhưng, sau nhiều năm bị quân Mỹ và quân Do Thái gieo rắc chiến tranh thảm khốc, khiến các chủng tộc Irak, A Phú Hãn ( Afghanistan) và Palestine lâm cảnh đói nghèo. Thảm họa này khiến cho 4 chữ đại tự « TIẾT HẠNH KHẢ PHONG » của các giới nữ tín đồ đạo Hồi đã sơn son thếp vàng từ hàng ngàn năm trước nay chỉ còn là mấy tờ « giấy xanh » (USDollars). Giá rẻ như bèo. Chẳng khác gì thảm trạng của miền Nam VN từ năm 1965, khi quân Mỹ và đồng minh ồ ạt kéo vào miền Nam với câu ca dao tiêu biểu rất bình dân : » Anh thi rớt tú tài, anh đi trung sĩ. Em ở nhà làm đĩ nuôi con »! Để chứng thực, xin cống hiến ngay đây một vài con số thống kê thuộc văn phòng của giáo chủ Ayatollah Al-Sistani về 2 chữ tiết trinh của giới phụ nữ Irak, đạo Hồi : Năm 2003, khi quân Mỹ mới mở cuộc xâm lăng Irak, con số ly dị chỉ có tỷ lệ 3%.Nhưng chỉ trong vòng 2 năm sau, tức đến năm 2005, số tỷ lệ tăng vọt lên đến 29%. Hai năm sau nữa, 2007, chỉ số ly dị tiếp tục phi mã lên đến 50%. Cuối cùng , đến năm ngóai, 2009, chỉ số tỷ lệ càng gia tăng cao hơn , lên đến 65%...Theo nhà xã hội học ( sociologue) Rawnak Jabbar và luật gia Hussam Al- Azaoui, nguyên nhân cốt yếu không ngòai vấn đề kinh tế và chiến tranh… Nhắm giúp bạn đọc có được cái nhìn chính xác và quân bằng hơn trong phạm trù này, thiết tưởng tôi cần phải bổ túc thêm. Đạo Hồi vốn có tục kết hôn bằng 2 cách ( 2 sortes de mariages): kết hôn vĩnh viễn, hay suốt đời (mariage permanent) và kết hôn tạm thời (mariage temporaire). Ngày xưa, khi nước Irak còn an bình, dân tộc này còn sống trong no ấm thì tỷ số kết hôn tạm thời chỉ là những con số không đáng kể. Nhưng kể từ khi « Busk Con » và tập đòan Do Thái lên cầm quyền nước Mỹ, tạo cớ đánh chiếm Irak, thì tỷ số hôn nhân tạm thời trong dân tộc này bỗng gia tăng nhảy vọt theo nhịp của tiếng nổ bom đạn dồn dập. Đến đây, chắc có một số độc giả không khỏi thắc mắc về lệ tục xa lạ « kết hôn tạm thời » của đạo Hồi. Vì thế, tôi cần phải giải thích rõ thêm : Kết hôn tạm thời có nghĩa cặp nam nữ đồng thuận ký giấy hôn thú xác định rõ rệt ngày lấy nhau và thời gian ấy kéo dài bao lâu ( thí dụ : xác đinh trước chỉ có giá trị trong vòng một tháng hay một năm v.v…).Khi lấy nhau, trước mặt chứng nhân hộ tịch, người phụ nữ chỉ cần tuyên bố một câu minh xác nguyên văn như sau : « Tôi sẽ là vợ của anh trong khỏang thời gian từ ngày… đến ngày… là chấm dứt, với điều kiện trợ cấp gồm… ». Kế đó, người đàn ông lên tiếng công khai minh xác: « Tôi đống ý ! ». Thế là xong. Thật đơn giản và dễ như chơi. Đọc chuyện này, bạn đọc sẽ nghĩ gì và hiểu như thế nào về hiện tượng lạm phát « hôn nhân tạm thời » của một tôn giáo vốn rất khắc nghiệt đối với 2 chữ Tiết-Trinh của nữ giới? Riêng tôi không dám lạm bàn, e xâm phạm vào quyền tự do tư tưởng của độc giả. Nhưng tôi vẫn không thể ngậm miệng mà chẳng nói ra cho mọi người biết đó chính là « hậu môn » , cổng sau của luật Hồi giáo ngầm gíup cho nữ giới được sống hợp pháp với « gia tài của mẹ » trong giai đọan chiến tranh, kinh tế lụn bại, xã hội hỗn lọan. Từ cái nhìn ấy , ta quán chiếu vào nghịch cảnh tôn giáo VN, riêng bọn giặc thầy chùa VN, một thứ đặc sản của chiến tranh và sự đói nghèo trong xã hội miền Nam, chẳng những đã chẳng giúp ích gì được cho xã hội trong cơn đại lọan chúng còn lợi dụng danh nghĩa tu hành , mượn danh PHẬT để làm cho mọi thứ thuần phong mỹ tục của dân tộc bị ô uế, vấy bẩn. Điều này đã khiến cho giáo chủ Hủynh Phú Sổ khi mới khai đạo đã phải lên tiếng công kích và khuyên răn quần chúng nên xa lánh. Theo tôi, hiện tượng này rất đáng cho chúng ta suy ngẫm! Ngày nay, ở hải ngọai, như mọi độc giả đều biết, thậm chí đến cả những nơi thờ phụng thiêng liêng cũng đã biến thành chợ bán đấu gíá niết bàn, chỗ trao ân đổi ái, nơi dùng tiền mậu dịch đức tin, hối lộ thần, Phật cho được hưởng phước , đức lâu dài đến tận các đời con, cháu, chắt , chít v.v… v.v…Những trò bịp bợm trắng trợn ấy của bọn tu hành giả mạo, cộng với đầu óc ngu si, mê muội của đám tín đồ đông đảo đã khiến đức Huỳnh Phú Sổ phải dùng đến những lời thơ sắc bén như những mũi tên bắn thẳng vào con tim của loài người , nhắm khuyên nhủ hậu thế nên giữ gìn tư tưởng và trau dồi đức hạnh đoan trang: Tu hành dương thế cậy đồng tiền, Phật giáo vì tiền phải ngửa nghiêng. Bát Nhã chẳng đưa người tội ác. Thuyền Từ nào rước lại Tây Thiên, Trần gian đầy rẫy người làm dối, Đạo cả nào trông đến cảnh thiền. Đoái thấy người đời lòng bắt chán, Dương trần lầm lạc đáng ưu phiền... Muốn đặng thành Thần với Phật, Tiên, Rán tu ân đức, chớ tu tiền! Lợi danh chớp nhoáng như luồng gió, Thấy đó rồi đâu bỗng mất liền… [Luận việc tu hành] …Tôi giết chúa, con đành sát phụ. Lúc nguy cơ, tớ mong hại chủ, Trò giết thầy tội ấy đáng không? Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng. Niềm huynh đệ cùng nhau sâu xé, Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ Giành của tiền cốt nhục giết nhau. Tranh lợi danh giết lẫn đồng bào, Tình nhân loại phân chia yểm bách… Đọc những câu thơ trên, không khỏi có người sẽ hỏi: Tại sao tôi không trích dẫn những lời khuyên tương tự rút từ các thánh kinh Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Hồi giáo…? TIẾNG RAO GIẢNG RUNG ĐỘNG LÒNG NGƯỜI Xin trả lời: Vấn đề rất đơn giản. Lời trong các kinh sách ấy hoặc phát xuất từ văn hoá Su Me [vùng Lưỡng Hà], La-Hy [Tây phương], hoặc Ấn Độ và Trung Quốc v.v…Nó không đủ khả năng thẩm nhập trực tiếp vào tận đáy tâm can của người dân Việt thuần tuý! Thử hỏi: hiện giờ có mấy người VIỆT NAM trung bình đã đọc và hiểu được tận tường ý nghĩa của những câu sau đây:”Một con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một kẻ giàu vào vương quốc nhà Trời” [Mt19,24; Mc 10,25; Lc 18, 25]. Hoặc câu Hán Việt: ”Đáo bỉ ngạn” (tiếng Bắc Phạn: Paramita) và “xích tử chi tâm”…?! Nên biết, các loài điểu thú vô tình cũng chỉ kết đoàn và tương cảm khi phát ra cùng một âm thanh và mang cùng một sắc lông. Vậy, con người, vốn là một loài động vật có vú, cũng không khác vạn vật trong thiên nhiên, nên không thể khác được! Mặt khác, trong phạm trù tình tự dân tộc, kể từ năm 1954 sự phân hoá và chia rẻ dân tộc đã diễn ra ngày càng trầm trọng. Trong thâm tâm của mỗi người dân Việt, từ Bắc chí Nam đều cảm thấy cái hố chia rẽ ngày càng bị khoét sâu rộng thêm ra đến mức vô phương hàn gắn.Hơn thế nữa, ngày nay ở hải ngọai còn đẻ thêm ra một nguyên nhân gây chia rẽ khác vô cùng trầm trọng là” dịch chụp nón cối “ bừa bãi! Vì thế, bây giờ tôi viết về đức Huỳnh Giáo Chủ tức là tôi muốn dùng tư tưởng vô sai biệt, lòng yêu thương dân tộc và xây dựng đất nước của ngài làm một tiếng chuông cảnh tỉnh các giới đồng bào hãy đoàn kết gắn bó để xây dựng đất nước cường thịnh hầu đủ lực chống đại hoạ ngoại xâm: Bây giờ ngồi nghĩ những ngày qua, Lòng tớ lạ không chẳng nhớ nhà, Nhớ cả vạn dân trong bốn biển… [nghĩ những ngày qua] Những lời châu ngọc và những tư tưởng thanh cao đại loại như trên của đức Huỳnh Giáo Chủ chứa đầy trong bộ Thi Văn, Sấm Giảng của ngài. Những lời ấy bấy lâu nay đã bị bụi thời gian phủ dầy. Một số tín đồ nặng mặc cảm tự ti (complexe d’infériorité), thấy mình kém cỏi, nên cứ âm thầm nghĩ rằng tôn giáo của “người mình” không thâm sâu, mầu nhiệm, không sang trọng, rực rỡ như các tôn giáo ngoại lai khác! Một số người hiếm hoi thông hiểu giáo lý của Huỳnh Giáo Chủ lại vướng mắc cố tật chấp nê văn tự. Lề lối suy tư của họ đã bị đóng khung cứng ngắc trong khuôn sáo cũ mòn của tôn giáo. Ấy là tôi chưa kể đến một đại họa đã nằm sẵn trong nội tạng PGHH từ ngày giáo chủ Huỳnh Phú Sổ mới khai sáng đạo cho đến nay ở hải ngoại đã có một thiểu số nghiệt súc, thuộc hạng đầu trộm đuôi cướp, sinh trưởng tại địa phương tự nhận làm “ CƯ SĨ TẠI GIA” (sic!) PGHH, để mưu cầu tham vọng riêng tư. Do đó, giáo hội gồm những tín đồ lương thiện và đạo hạnh còn dè dặt, e ngại không dám phá cách, chưa dám mở toang cánh cửa tư tưởng của Huỳnh Phú Sổ, để cho ánh sáng bình minh của một ngày mới, giữa trào lưu văn minh hiện đại của kỷ nguyên tín học (informatique) soi rọi vào. Đến đây, chắc lại có người hãy còn thắc mắc, nêu câu hỏi:”Giữa thời đại tốc độ siêu âm hiện nay, tại nhiều nước Âu -Mỹ, người ta đã đem cả nhạc Rock, nhạc Rap… vào giáo đường ca hát, nhảy múa tưng bừng để tuyên truyền và giúp vui cho tín đồ, mà tác giả lại đem những lời kinh kệ, sấm giảng ê a hết sức thê lương, buồn thảm dạy đời của giáo chủ HPS ra mà bình luận. Vậy, có phải là một hành vi lỗi thời hay không?” Xin thưa, hoàn toàn không! Vì theo một định luật tự nhiên gần như bất biến của tạo hóa, tất cả hành vi và ngôn từ của các đấng siêu nhân như: Lão Tử, Khổng Tử, Thích Ca, Jésus Christ, Martin Luther (giáo chủ Tin Lành), Mahomet…đều chứa sẵn một số trọng điểm tư tưởng có giá trị nội tại mang tính bất biến trong tâm hồn con người qua nhiều thế hệ quần chúng trên hoàn vũ, để đưa các ngài vào quỹ đạo “Bất Tử” (Immortel). Ví như giáo điều của Moise, Jésus, Martin Luther, Thích Ca, Khổng, Lão, Diogène, Socrate, Platon v.v…Vậy, những lời kinh kệ, sấm giảng trong mấy bộ thi văn của Huỳnh giáo chủ cũng không khác. Dù bây giờ hay một ngàn năm sau, giá trị nội tại ( valeur intrinsèque) trong tư tưởng của Huỳnh Giáo Chủ vẫn chẳng khác nào lời rao giảng của Chúa Jésus Christ, hay Phật Thích Ca, Martin Luther, hay các vị thánh triết Hy Lạp : Socrate, Platon, Diogène …hoặc như lời của đấng tiên tri cuối cùng Mahomet… Bởi những lời rao giảng của Huỳnh Giáo Chủ cũng ngầm chứa sẵn một chân lý bất biến, nên vẫn sẽ còn bám trụ sâu kín tận trong đáy tâm hồn của trên 8 triệu tín đồ miền Tây Nam Bộ. Con số khổng lồ ấy đã do đích thân Huỳnh Giáo Chủ (từ đây sẽ viết tắt HGC) tạo dựng nên trong một thời gian kỷ lục, chỉ trong vòng vài năm trời, từ năm 1939 đến 1947. ĐẶT TRẢ VẤN ĐỀ VÀO KHUNG THỜI GIAN CỦA QUÁ KHỨ Nếu rảnh rỗi, bây giờ ta hãy thử làm một bài toán, với giả thuyết, từ năm 1939, nếu HGC vẫn còn tiếp tục khai truyền đạo pháp cho đến tận ngày nay (2008) , con số đệ tử, tín đồ của ngài đã lên đến bao nhiêu người? Để cho vấn đề này thêm phần sáng tỏ, và không có tính võ đoán, hoặc suy luận khiên cưỡng, thiết tưởng ta cần đi sâu vào sự thực hơn chút nữa. Ngoại trừ thánh Moise có bộ tộc Levy trung thành, thời bấy giờ thầy Rabin Jésus đi thuyết giáo chỉ qui tụ được có 12 vị thánh Tông Đồ, phần lớn là dân đánh cá, một vài người làm thợ mộc. Tất cả đều thất học. Chỉ một mình thánh Jean về sau có học chút đỉnh thôi. Ngoài ra, còn 3 ông thánh khác: ST. Paul, St. Mathieu, St. Marc là những người có học. Nhưng 3 ông này lại không phải là môn đệ đầu tiên từng sống gần gũi với chúa Jésus. Thuở sinh thời ngắn ngủi, chúa Jésus chỉ đi giảng đạo bằng đường bộ trong vòng chu vi khoảng 100 cây số vuông, tức khoảng 3 ngày đường mà thôi. Con số tín đồ của ngài không thấy minh xác bao nhiêu, nhưng chắc chắn chỉ lẻ tẻ chẳng đáng kể, chớ không nhiều đến hàng ngàn hay hàng vạn. Bởi lý do, thời ấy dân số còn thưa thớt và cư ngụ rải rác. Đồng thời chúa Jesus lại không có phương tiện di chuyển tiện nghi và nhanh chóng như thời thập niên 30! Ta thử tưởng tượng, nếu lúc bấy giờ chúa Jesus đã đạt được con số tín đồ đáng kể đến hàng ngàn, hàng vạn tức đã xây dựng được một lực lượng đông đảo tín đồ hùng mạnh, chắc chắn bọn Rabins đồng đạo và đồng chủng Do Thái với ngài, đang làm tay sai cho quân chiếm đóng La Mã, đã không dám đem ngài ra hành hạ cách cực kỳ dã man trong suốt mấy ngày trời trước mắt đông đảo quần chúng. Về phiá Phật Thích Ca, hiển nhiên không khác chúa Jésus bao nhiêu. Ngài chuyển pháp luân lần đầu tiên tại thành phố Ba La Nại (Varanaci), nằm bên bờ sông Hằng (Gange), thu nhận 5 người bạn vcùng tu khổ hạnh vào hàng tì kheo, theo kinh Trung A Hàm (Majihima Nakàya) và Luật tạng (Mahavagga) gồm các ông: Kiều Trần Như (Kondanna), Bạt Đề (Bhaddiya), Thập Lục Ca Diếp(Vappa), Ma Nan Cận Li (Mahànàma) và A Xà Ba Thệ (Assaji). Nên biết: đối với tín đồ PG, thành phố Ba La Nại, ví chẳng khác nào Jerusalem của Do Thái, đối với tín đồ TCG, và thành phố Mecca (La Mecque) đối với tín độ Hồi giáo. Tưởng còn nên biết thêm: sông Hằng chảy theo hướng tây-bắc đông-nam, nhưng khi ngang qua thành phố thánh linh Ba La Nại, thì nó lại chảy theo hướng bắc-nam. Do đó, nên bờ sông phía đông, không thuộc đất thánh, ai chết bên bờ sông ấy, hoả táng bên bờ sông ấy sẽ bị đầu thai làm kiếp con …lừa! Ngược lại, ai chết và hoả táng bên đất Thánh (tây ngạn sông Hằng) thì sẽ được siêu về cõi trời. Do truyền thuyết này, mấy trăm năm sau khi đức Phật đã qua đời, những người viết kinh Đại Thừa mới chế biến ra Phật Di Đà và bịa tạo ra cảnh giới Tây Phương Cực Lạc! Các tổ chức Tăng Già (Sangha) thành hình rồi, ta thấy Phật thu nạp thêm cả những gia đình nhà giàu có, thế lực lớn, như tôn Giả Da xá (Yasa), nhưng nhà tu khổ hạnh có đông đệ tử sẵn như 3 anh em nhà Ca Diếp U Lân Tần La (Uruvela Kassapa), Ca Diếp Na Đi (Nadi Kassapa), Ca Diếp Núi Đầu Voi( Gaya Kassapa). Mỗi đạo sư đem theo vài trăm đệ tử. Tuy nhiên, con số đệ tử đã qui y với Phật lúc bấy giờ, vì chưa có phép thống kê, nên người ta chỉ ước tính và có ý muốn đưa ra một con số làm vui lòng mọi người là chưa đến 1 ngàn ngưòi! Về phần Mahomet, thuở khai đạo, trong 3 năm đầu ( 611-614) ông ta chỉ thâu nạp được vỏn vẹn vài người trong vòng vợ con, thân tộc và bằng hữu thân thiết cùng với một dúm người lân cận thuộc thành phần xã hội bị áp bức, bị truy đì khốn khổ. Trong số có 1 người nô lệ đã được vợ chồng Mahomet giải phóng là Zaid Ibn Harith. Ngoài ra còn thêm 1 cậu bé mới lên 7 tuổi, tên Ali, con trai của Abou Taleb. Ông này vừa là bác ruột vừa là cha nuôi của Mahomet. Như vậy, cậu bé Ali, người anh con bác con chú với Mahomet. Tuy nhiên, về sau Ali lại lấy con gái của Mahomet làm vợ!… Theo sách “ truyền Thuyết” , những tín đồ đầu tiên theo hồi giáo, ngoài 3 người đã kể, còn có một số trai trẻ (Ahdâth ar- Rjal), và những người bất hạnh, hoặc đã bị mất quyền thừa tự, những người làm nghề thủ công, những nô lệ đã được giải phóng… tham gia. Nhưng nổi bật nhất là anh chàng Bilal, gốc Éthiopie (dân da đen ỏ Phi Châu) về sau đã trở nên một thày tu báo kinh (Muezzin) đầu tiên của giáo chủ Mahomet! Tóm lại, với những bằng chứng nêu trên, hiện còn ghi rõ ràng trong sử sách, chúng ta không khỏi nghiêng mình bài phục đức HGC. Khả năng thuyết phục của ngài quả là đáng kể, còn giáo thuyết của ngài lợi ích thực tiễn, đúng là một món ăn tinh thần bổ dưỡng và vô cùng hấp dẫn đối với đủ mọi hạng quần chúng. Khi vừa thưởng thức đã thấm nhuần ngay! Chỉ trong một thời gian vài năm ngắn ngủi của lịch sử VIỆT NAM tao loạn thời đó, ngài đã tạo dựng được một lực lượng tín đồ đông đảo trong suốt lãnh thổ miền Tây Nam Bộ. Tại sao lại chỉ ở miền Tây mà thôi? - Hỏi, tức trả lời! Bởi vì lúc bấy giờ công việc của giáo chủ hết sức đa đoan, nên ngài chưa có cơ hội sinh hoạt tôn giáo ở miền Đông Nam Bộ, miền Trung và miền Bắc VN. Từ thời còn ở trong nước, trước tháng 4.1975, tôi đã thường xuyên tới lui mấy tỉnh miền Tây, tiếp xúc thân mật với các vị lãnh đạo tối cao cấp cơ quan chính quyền quân sự và hành chánh địa phương, tôi có thể ước tính khá chính xác, tỷ số tín đồ PGHH trung kiên của 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc (nơi có vùng thánh địa) khoảng từ trên 90% đến hơn 95% dân số. Nên biết, đức HGC đã khai đạo tại thánh địa Hoà Hảo, thuộc tỉnh Châu Đốc, giáp ranh với tỉnh Long Xuyên, một tỉnh trù phú, và đông dân cư thuộc hàng nhất nhì của vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh , thời Tây cai trị. … ( còn tiếp) ĐẶNG VĂN NHÂM |