BÀI 2 (tịếp theo).- TÌM HIỂU BẢN CHẤT THUẦN TÚY DÂN TỘC CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO. KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP LIỆT PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀO MỘT CHI NHÁNH NGỎAI VI CỦA ĐẠO PHẬT! · <!--[endif]-->Tam giáo CHỈ ĐỒNG MÔN , không thể đồng nguyên được! ĐẶNG VĂN NHÂM ( TIẾP THEO)
CHỈ ĐỒNG MÔN, KHÔNG THỂ ĐỒNG NGUYÊN! Vậy, kết luận, ta phải hiểu sự thờ chung cả Lão, Khổng trong cùng một mái chùa (tam giáo đồng môn) chính là biểu trưng độc đáo – nên nhớ kỹ: chẳng phải của riêng đạo Phật! - mà là của tất cả các dân tộc thuộc nền văn hóa “ cầm đũa” gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Điều này đã nói lên tinh thần ”hòa đồng tôn giáo”, và chủ trương không chống đối lẫn nhau của các đạo : Khổng, Lão, Phật từ ngàn xưa. Đặc điểm này, ai cũng thấy rất rõ : hòan tòan khác hẳn với các tôn giáo đã bành trướng mạnh ở Trung Đông và Âu Châu, như các đạo Du Già Do Thái (Judaisme), đạo Hồi (Islamisme), Thiên Chúa La Mã, Chính thống Giáo (Orthodoxe), Cơ Đốc (Protestantisme)… Các đạo này đã từng tàn sát lẫn nhau cực kỳ dã man và đã tạo nên những cuộc thánh chiến hay chiến tranh tôn giáo kéo dài hàng nửa thế kỷ, có khi còn dai dẳng đến cả thế kỷ là thường!... Riêng PG, ngay từ thuở ban đầu mới truyền bá đến Trung Quốc, tinh thần hòa đồng đã giúp cho PG dễ dàng lôi cuốn các nhà trí thức Trung Hoa, được họ hợp tác, và tận tình giúp đỡ sử dụng cả kho tàng ngôn ngữ của 2 tôn giáo Lão - Khổng, để phiên dịch kinh sách, khiến cho đạo Phật bành trướng thêm mau chóng.Trong ”Lý Hoặc Luận” , Mâu Tử đã áp dụng triệt để phương pháp này. Nhờ sẵn thấm nhuần giáo lý Khổng –Lão, nên Mâu Tử có khả năng giải thích rất rành rẽ đạo Phật cho những nhà trí thức đã theo 2 tôn giáo Khổng-Lão. Mâu Tử nói rằng giáo lý Khổng –Lão bắt nguồn từ tuệ giác của Khổng –Lão, có giá trị đạo đức của Khổng –Lão. Giáo lý Phật bắt nguồn từ tuệ giác của Phật, có giá trị về đạo và đức của riêng PG. Do vậy, đạo Phật và các đạo Khổng –Lão không chống đối nhau. [ * Chú ý: qua lời nĩi trên đây của Mâu Tử, ai cũng phải nhận ra tam giáo: Phật, Khổng, Lão, từ căn bản tư tưởng đã hịan tịan khơng thể nào “ đồng nguyên” được!]. Ngoài ra, kinh sách còn kể, thời đó Mâu Tử đã dùng văn học Khổng-Lão để giảng giải đạo Phật rất hay và hùng biện quá, đến nỗi khiến có người phải nghĩ:” Lời Mâu Tử giảng giải đạo Phật sáng sủa, đẹp đẽ quá, tôi nghĩ đó là do sự khéo léo của Mâu Tử , chớ chưa chắc đạo Phật đã tốt đẹp đến như thế!”Mâu Tử trả lời:”Thì có bao nhiêu kinh sách của Phật đó. Ngày xưa chưa hiểu Phật tôi còn kích bác nhiều hơn ông nữa...Ngày xưa, Ngũ Kinh đối với tôi chỉ là hoa, chứ chưa phải là trái!”Lại có người còn trách Mâu Tử:” Tại sao không dùng ngay từ ngữ PG mà giảng đạo, lại dùng từ ngữ của Khổng –Lão?”. Mâu Tử đáp:” Tại vì nhiều người đã biết kinh truyện, nên tôi phải dùng sự việc trong kinh truyện để làm cho thiên hạ dễ hiểu!” Nói xong Mâu Tử liền dẫn chứng bằng cách kể chuyện gảy đàn của Công Minh Nghị:- ”Công Minh Nghị đàn điệu”Thánh Dốc” cho một con bò cái nghe. Con bò cứ thản nhiên cúi xuống gặm cỏ như thường. Như thế chẳng phải con bò cái ấy điếc, mà chính vì cái điệu nhạc kia chẳng có nghĩa lý gì đối với cái lỗ tai của con bò. Nó tưởng điệu nhạc ấy là tiếng muỗi hay tiếng nhặng vo ve gì đó. Nhưng, nếu khi đó, con bê nhỏ kêu lên một tiếng, chắc chắn lập tức bò cái vẫy đuôi, ngảnh cổ, nghe ngóng và chạy đến ngay!...”Tại sao vậy? Đơn giản lắm. Chỉ bởi âm thanh tiếng kêu của con bê và thính lực của con bò cái đều phát ra ”cùng một tần số” mà thôi!
GIÁO CHỦ HÙYNH PHÚ SỔ TRONG NHÃN QUAN HIỆN ĐẠI Trường hợp Hùynh giáo chủ rất đặc biệt, ần chứa nhiều nghịch đảo. Do đó nên chung quanh ngài kể từ khi còn sinh tiền cũng đã tạo nên nhiều nguồn dư luận, phản ánh nhiểu nhận định khác nhau, đối chọi mâu thuẫn. Theo tôi, hiện tượng này không có gì khác thường , bởi nhìn vào lịch sự lập giáo của các đấng vĩ nhân từ thời cổ đều không ai thóat khỏi cảnh ”kẻ theo người chống”. Kịch liệt nhất và thê thảm nhất là Thích Ca, Jesus Christ, Mahomet...Bởi thế, khi viết về Hùynh giáo chủ với nhãn quan hiện đại của một nhà nghiên cứu sống vào thời văn minh hiện đại, tôi không thể nhìn hiện tượng Hùynh Phú Sổ bằng cặp mắt sành hay của một con ngựa kéo xe thổ mộ vào thời Tây mới đến chiếm đất nước ta, và tôi sẵn sàng thanh đàm nhã luận với bất cứ bậc thức giả nào đã từng dành nhiều thời gian để thâm cứu về vấn đề này, với hòai vọng được học hỏi thêm. Khi chạm mắt đến tiểu đề trên đây, xin bạn đọc đừng vội nghĩ ngay rằng chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi trên bằng cách ghi lại đầy đủ các chi tiết lý lịch về cá nhân và giòng dõi gia thế của giáo chủ Hùynh Phú Sổ. Việc tầm thường này, ai làm cũng được. Nơi đây , vì không muốn phí giấy mực và làm mất thì giờ qúi báu của bạn đọc ,chúng tôi sẽ không làm việc ” thơ ký hộ tịch” của một nhân viên ban hội tề tại các làng xã. Thản hoặc, tới một lúc nào đó, khi cần phải chứng minh đích xác thân thế của giáo chủ chúng tôi cũng chỉ vắn tắt tóm lược mà thôi. Như vậy, không có nghĩa chúng tôi đã bỏ sót hay ” coi nhẹ” phần thân thế của ngài. Bởi khi nghiên cứu về tư tưởng và tôn giáo của Hùynh giáo chủ, chúng tôi đã nhận ra đây là hiện tượng hiếm hoi: thánh trí nằm trong xác phàm của một đấng vĩ nhân. Đây là trường hợp đặc biệt biệt của các lọai độc thần giáo (monothéisme), có tính cách thiên khải (illumination) hay thần khải ( révélation, tiếng Ả Rập: al-tanzil), khác hẳn với các tôn giáo đa thần (polythéisme).Trường hợp ngộ đạo của Hùynh giáo chủ, theo ông Nguyễn Văn Hầu, trong tác phẩm” Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An”, sau khi đức Phật Thầy Tây An viên tịch tại núi Sam , năm 1856, thì người thừa kế đã được khai thị do thần khải chính là giáo chủ Hùynh Phú Sổ và đạo ”PGHH của ngài noi theo truyền thống cách mạng Bửu Sơn Kỳ Hương của đức Phật Thầy Tây An để trở thành một tông phái vững vàng trên hệ thống tư tưởng và chặt chẽ trên cơ sở tổ chức nghi thức tôn giáo hiện đại” (trg 65). Ngòai ra, ông Hầu còn viết:” Đã nắm chắc được những điểm căn bản của tông phái như vậy rồi, giờ đây chúng ta mới có đủ yếu tố để đi sâu hơn vào sự tìm hiểu những gì được coi là đồng nhất giữa quyển ” Sấm Truyền” mới tìm được với tòan bộ Sấm giảng PGH. Trước hết, chúng ta cần thấy rõ những điều di giáo xưa kia của đức Phật Thầy Tây An là những điểm minh thị của đức Hùynh giáo chủ hôm nay” (trg 67). Như vậy, theo tôi, sự ngộ đạo trên núi Sam của Hùynh giáo chủ đã có tính cách thần khải (révélation) huyền bí, chẳng khác nào thánh Moise của dân Hébreux (Do Thái) đã lên núi Sinai, và nhà tiên tri Eli lên núi Horeb, hay chúa Jésus lên núi ” El Djebel Qarantal” ( tiêng Pháp: Mont de la Quarantaine), và Mahomet cũng thường lên núi, ở trong thạch động Hira, thức trắng nhiều đêm liên tiếp, chờ đợi để được đón nhận lời thánh truyền của thánh Gabriel. Nhận xét như thế, tôi vẫn cảm thấy không chút khiên cưỡng nào. Vì truy nguyên tông tích các tôn giáo cũng như cuộc đời của các vị giáo chủ tự thân khai sáng đạo như Mahomet, hay về sau đã được các đệ tử sùng bái lập nên đạo để tôn thờ như: Jesus Christ, Thích Ca…đều giống nhau như thế cả! Nhưng, nếu muốn khám tìm ra những điểm tương đồng hay dị biệt giữa Hùynh giáo chủ với các bậc thánh nhân tôn giáo của nhân lọai của mỗi tôn giáo, mặc dù cùng một nguồn gốc, lẫn cả những nguyên nhân phát triển, bành trướng mạnh của một tôn giáo nào đó, so với lý do sơ cứng, già cỗi, tư tưởng lỗi thời của một tôn giáo khác, khiến cho tôn giáo này đang bị suy yếu, và phải bước vào giai đọan thóai trào. Thí dụ như đạo Du Già (Jude) của chủng tộc Hébreux. Xuyên suốt một quãng dài hàng mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Do Thái ( chủng Hébreux) đã từng bị đày đọa làm nô lệ và bị tàn sát tập thể, bất kể đàn bà trẻ thơ, ít nhất hàng ngàn người, hàng muôn vạn người, cho đến hàng triệu người…đến nỗi đã tạo thành những danh từ chỉ sự thảm sát, diệt chủng, cực kỳ khủng khiếp của lòai người như:” Shoah” và “ maccabée” ( từ này đã trở thành một đặc ngữ trong ngành y khoa, có nghĩa: xác chết!). Khởi đầu, đáng kể là hòang đế Pharaon của Ai Cập đã bắt dân tộc Do Thái làm nô lệ, và đối xử vô cùng dã man. Đến khỏang năm 170 trước TC, hòang đế Hy Lạp Antiochus IV Epiphane muốn dẹp bỏ đạo Du Già, cấm dân Do Thái không được cúng tế và cấm cắt da bọc qui đầu con trai trong vòng 8 ngày sau khi sanh. Dân Do Thái phản kháng liền bị tàn sát tập thể đến hàng vạn người. Xác chết chồng chất không kịp chôn. Đến khỏang thế kỷ thứ nhất sau Thiên Chúa, theo sử gia Flavius Joséphe, dân Do Thái lại bị quân cai trị La Mã giết chết đến mấy trăm ngàn người trong một lúc. Đến 70 năm sau TC, thành Jérusalem bị san bằng thành bình địa. Từ đây dân Do Thái còn sống sót đã phải lẩn trốn bỏ nước ra đi lang thang mãi đến năm 1948 mới có cơ hội trở về vùng đất hứa để tái lập quê hương. Trong thời gian sống lưu vong, dưới thời Nga Hòang, và thời Stalin, dân Do Thái lại còn bị tiêu diệt tập thể trong những “Pogroms” đến hàng mấy triệu người. Đến thời Hitler, dân Do Thái ở Âu Châu lại bị quân Đức Quốc Xã mở những cuộc tàn sát diệt chủng (génocides) trên 6 triệu người trong các trại tập trung…Vậy, nhờ đâu mà dân tộc Do Thái vẫn còn tồn tại vững mạnh? Tôn giáo Du Già (Jude) của chủng tộc Hébreux đã trả lời trọn vẹn câu hỏi này. Tuy vậy, nếu đạo Du Già không có bộ thánh kinh Torah và kinh Talmuds là chất xúc tác tư tưởng quí báu, luôn luôn hiện đại và thích nghi trong từng giai đọan lịch sử, chắc chắn dân tộc Do Thái và quốc gia Israel đã bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới từ lâu lắm rồi! Mặc dù đạo Thiên Chúa ( Catholique), tự căn gốc Hy Lạp là “katholikos”, vốn có nghĩa tòan thể, khắp thế giới, nhưng ngay sau khi vừa hình thành, năm 324, TCG đã bị phân hóa thành 2 phái TCG La Mã và Chính Thống giáo để thích nghi với nhu cầu thời đại. Đến thế kỷ XVI, nhắm mục đích thanh lọc một số nhân vật lãnh đạo cao cấp đã bắt đầu vi phạm kinh Phúc Âm, giáo hội TCG La Mã lại bị phân hóa thêm lần nữa, mở đường cho sự ra đời của đạo Cơ Đốc (Tin Lành) và Anh Giáo…Kể từ sau đệ nhị thế chiến đến nay, theo đà tiến triển của thời cuộc và sự biến hóa trong tư tưởng của người tín đồ, TCG lại cựa mình, lột xác thêm lần nữa, phát sinh ra các hệ phái quan trọng như: Évangélique (Phúc Âm), Armageddon [tiếng Hébreu là: Har Megiddo, tức ngọn núi Megiddo) sách Khải Huyền (Apocalypse) cuốn sách cuối cùng của bộ Tân Ước Kinh do thánh Jean l’Évangéliste viết, liên quan đến thuyết Hậu Thế, theo truyền thống Hồi giáo trong đó sẽ xảy ra cuộc chiến giữa người lương thiện với bọn tà ngụy (eschatologique), báo trước sự cải đạo của những người Do Thái và kiến tạo nên thời gian trị vì lâu dài hàng ngàn năm của chú cứu thế], Millenium ( thời gian trị vì hàng nghìn năm của chúa cứu thế Christ vinh hiển sẽ hiện thực trên mặt đất là niềm tin mãnh liệt của các giới tín đồ giáo phái Phúc Âm ( Pentecôtisme) chủ nghĩa tái hiện đại hóa giáo hội nguyên thủy phát sinh từ đầu thế kỷ XX tại HK. Nhân danh sự trở về nguồn của thánh kinh, giáo hội này đặc biệt nhấn mạnh trên phép lạ tiền định, sự tái ngộ với đấng Jesus Christ, sự chữa bịnh bằng cầu nguyện, sự tham gia tự nguyện của tín đồ tạo ra phép mầu khỏang giữa thế kỷ).Charismatique (phép mầu). Điều này nảy sinh do sự về nguồn với thánh kinh, tái ngộ với đấng cứu thế, và tạo nên phép lạ do những cuộc cầu nguyện tập thể đông đảo có dàn nhạc yểm trợ, bao gồm cả các lọai nhạc “Rock, hay Rap Évangelique”, những lời than khóc, những hành động lên đồng, nhập cốt (transe), những phù phép công cộng, cử chỉ ban phúc bằng tay, những cuộc chữa bịnh bằng phep lạ…tạo thành một hiệu lực phục vụ vĩ đại trường kỳ liên tục trong giáo đường được sự bảo trợ của tòa thánh La Mã)… Trong số ấy, đáng kể nhất, vì sức bành trướng mãnh liệt nhất và con số cải đạo khổng lồ chưa từng thấy là giáo phái: “Evangelical Churches of Jesus Christ”. Năm 1940, giáo phái này chỉ có 4 triệu trong tổng số 560 triệu tín đồ TCG.Nhưng nay, con số tín đồ của phái Phúc Âm (Évangelique) đã trở nên 500 triệu, trong số 2 tỷ tín đồ TCG. Như vậy, là tỷ lệ :một phần tư! Người ta ước tính mỗi ngày đã có khỏang 52 ngàn vụ cải đạo, và đã có đến 14.000 tên gọi, gồm 1 triệu giáo đường với khỏang 1 triệu mục sư làm việc tòan thời. Theo giáo sư thần học Harvey Cox, thuộc viện đại học Harvard, tác giả” Retour de Dieu. Voyage en pays pentecôtiste” ( Desclée de Brouwer) tiên tri từ nay cho đến năm 2050, thế kỳ XXI, trên mặt đất này cứ 2 người lại có 1 tín đồ TCG. Những tín đồ này đa số đều thuộc lọai “ Born Again Christian”. Tên gọi như vậy, vì họ đều là những phần tử cải đạo, được thọ lễ rửa tội lần thứ nhì, song không phải là lễ rửa tội cổ điển mà gọi là một cuộc hội ngộ giữa “ người với người, giữa người với Thượng Đế, tức với đấng Christ”! Chính cựu tổng thống HK George W. Bush, năm 40 tuổi, khi ông đang đam mê tửu lượng quá đỗi, đã được mục sư Billy Graham, một vị “giáo hòang của giáo hội Phúc Âm”, đóng vai sứ giả của đấng Christ đưa ông Bush vào con đường “ tái sinh” để trở thành tổng thống HK!... Trong khi đó, ngược lại, vì giáo thuyết của đạo Hồi trải qua trên 1500 năm với biết bao biến thiên trọng đại của nhân lọai và trong vũ trụ, đã không hề diễn ra một sự canh tân nào, khiến cho trở nên bị sơ cứng lỗi thời, không thích nghi lắm với nhân tâm trên tòan thế giới ngày nay. Về phần đạo Phật, theo khái niệm của một người bởi giáo thuyết siêu nhiên quá thâm sâu uyên áo, và phương pháp tu luyện tinh thần vô cùng huyền diệu, vượt xa mọi bộ óc suy tư bén nhậy nhất của lòai người, nên đã trở thành một “ bất khả hiện thực” trong cuộc sống văn minh cơ khí, điện tử tối tân, với vận tốc siêu thanh và siêu quang ngày nay, khiến hiện thời đã biến những kẻ tu hành theo Phật pháp bị hụt hẫng, mất điểm tựa, và bỗng chốc hóa thành những kẻ “ phi cầm, phi thú” và tu hành theo kiểu “ thiên bất chí, địa bất đáo”! Nhưng theo riêng tôi, con đường đạt ngộ của đạo Phật đã bị bế tắc, mất lối vào không lối ra, ngay sau khi đức Phật vừa qua đời. Mớ giáo thuyết khẩu truyền tản mạn của ngài đã bị nhiều tầng lớp đệ tử đời sau cuả ngài tự ý pha chế, làm cho biến dạng, biến thể và biến chất hầu như hòan tòan. Đáng kể nhất là giới tăng sĩ Bắc Tông. Thậm chí mãi đến đời Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), tổ đời thứ 28 ở Ấn Độ, ngài đã qua Tàu, vào đất Quảng Đông năm 520, ngày 21 tháng 9 âm lịch, thời Võ Đế đời nhà Lương Song thời bấy giờ ở bên Tàu, những người tu hành đều theo thuyết hữu vi, không mấy ai theo thuyết vô vi. Do đó nên số người hiểu ngài rất ít. Ngài rất thất vọng, tuyên bố dứt khóat “bất chấp văn tự “ lên núi Tung Sơn, đến chùa Thiếu Lâm, diện bích, tu thiền định suốt 9 năm, làm sơ tổ Thiền Tông ở Đông Độ. Ngài tịch năm 529, để lại cho nhân lọai một đường lối cách mạng tu tập đạo Phật bằng con tim, vứt bỏ hết kinh sách, để dễ dàng đạt ngộ. Với những dữ kiện tôn giáo như trên, tôi ước ao được đem cái nhìn mới mẻ về tôn giáo quán chiếu vào giáo lý đã ra đời ngót một thế kỷ nay của đức Hùynh giáo chủ, mong khám tìm ra những viên ngọc qúi giá trị bất biến, vượt không gian và thời gian, đang tiềm ẩn trong đó, để các nhà tôn giáo học sẽ dùng tài trí và sở học sắp xếp lại thành từng chương, từng điều khỏan mạch lạc , cho các giới tín đồ dễ dàng nhập tâm giữ giới. Thực hiện được sở nguyện này, tự nhiên giáo lý của đức Hùynh giáo chủ sẽ trở nên bừng sáng như một tôn giáo lớn của dân tộc, đáng để mọi người VN từ Nam ra Bắc đều phải quan tâm chiêm ngưỡng và hãnh diện bảo tồn. ( còn tiếp) ĐẶNG VĂN NHÂM |