TÌM HIỂU TÍNH CHẤT THUẤN TÚY DÂN TỘC CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO · ĐẶNG VĂN NHÂM [Hội viên Hội nghiên cứu Đông Dương ( 1953- 1975)- Socíeté des Études Indochinoises ( 1953-1975) ] MỞ ĐẦU Cách nay vài hôm, bất ngờ tôi đã nhận được tin từ tiến sĩ Lê Phước Sang, hội trưởng hội đồng trị sự trung ương giáo hội PGHH thông báo tạm hõan đại lễ 71 năm thành lập PGHH vào một dịp khác thuận tiện hơn. Nếu tôi nhớ không lầm đây là lần đầu tiên, vì lý do bất khả kháng TS Lê Phước Sang đã phải tạm đình hõan ngày đại lễ quan trọng của trên 8 triệu tin đồ HH trong khắp các tỉnh trù phú miền tây Nam bộ, khiến nhiều đồng bào hải ngọai cũng như đồng đạo PGHH không khỏi bị hụt hẫng,và cảm thấy mất mát một điều gì mơ hồ khó tả như mây khói. Để bù đắp chỗ trống bất ngờ ấy, tôi chợt nghĩ cần phải nhân dịp này, nói lên đôi điều cảm nghĩ và một vài nhận xét riêng của cá nhân tôi đối với một tôn giáo mang đậm màu sắc thuần túy dân tộc, hòan tòan khác hẳn với các tôn giáo ngọai nhập vào Việt Nam như : Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành Cơ Đốc Giáo, Hồi giáo, Ấn Giáo, đạo Bahai v.v… Với tư cách của một người nghiên cứu, tôi viết những trang sách sau đây, chưa hề ấn hành hay phổ biến báo chí, công luận bao giờ (inédit). Dĩ nhiên là một nhà nghiên cứu có qua trình học hỏi, tham cứu đàng hòang, tôi tự nhận thấy có quyền phát biểu quan điểm của cá nhân tôi dựa trên những tư liệu sưu khảo chứng liệu lịch sử, song tôi vẫn không võ đóan hàm hồ tước đọat quyền tham gia ý kiến, sự tự do ngôn luận của các giới bạn đọc bốn phương về những gì mà tôi đã trình bày với một giá trị kiến thức tối thiểu cùng với một văn phong nhã luận. Như thế cốt để tránh cho một cuộc thanh đàm nhã luận về tôn giáo và tư tưởng khỏi biến thành một cuộc chửi lộn của bọn trôi sông lạc chợ ở hải ngọai ngày nay…
Thực sự chẳng phải đến ngày nay tôi mới biết đến giáo chủ Hùynh Phú Sổ và chủ thuyết, giáo lý của ngài. Ngay từ khi còn là một học sinh trung học , tham kháng chiến chống thực dân Pháp, lặn lội trong các bưng biền Nam Bộ, tôi đã có dịp nghe nói đến và biết về giáo phái Hòa Hảo. Trong thời gian này, tôi và Lê Phước Sang đã có cơ duyên hội ngộ trong một thời gian ngắn ngủi. Chỉ trong vòng vài tháng học luyện thi Brevet, rồi mỗi người lao vào đời bằng một ngả khác nhau. Nhưng không ngờ đến khỏang đầu năm 1963, khi phong trào đấu tranh của PG miền Trung khởi động, nhằm mục đích lật đổ chế độ đệ nhất cộng hòa, chúng tôi lại có dịp tái ngộ, với cùng một lý tưởng nhập thế của giới thanh niên thời quốc lọan, để rồi ngày càng gắn bó với nhau nhiều hơn , sâu đậm hơn cho đến tận bây giờ. Tính ra cũng đã hơn nửa thế kỷ rồi! Lúc bấy giờ, tôi vừa dạy học vừa viết báo để mưu sinh, còn Lê Phước Sang đã trở nên đại úy, phục vụ trong văn phòng của thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ, một vị tướng lãnh khả kính gốc giáo phái Hòa Hảo, vốn là đệ tử thân cận của giáo chủ Hùynh Phú Sổ. Từ đó cho đến nay, tình bạn giữa tôi và Lê Phước Sang, tuy đã trải qua nhiều thăng trầm cay đắng, song vẫn bền bỉ sâu đậm theo giòng thời gian. Trong số bằng hữu thâm giao lâu dài, hiện tôi còn rất nhiều người hoặc đang lưu vong hải ngọai hay ở trong nước, nhưng có lẽ chẳng một ai thắm thiết hơn tôi và Lê Phước Sang. Vì ngòai tình bằng hữu thông thường, chúng tôi còn chia sẻ với nhau từng cảm nghĩ, và cộng tác gắn bó với nhau trong các lãnh vực chính trị, giáo dục, và tôn giáo. Đáng kể nhất là tôn giáo. Từ đây, qua Lê Phước Sang, người con trai đất Long Xuyên, gốc nông dân thuần túy, một tín đồ trung kiên đến từng giọt máu và từng hơi thở của đức thầy Hùynh Phú Sổ, tôi đã từng có nhiều dịp đặt chân lên thánh địa Hòa Hảo và ngôi tổ đình tôn nghiêm, đồng thời quen biết hầu hết các nhân vật cao cấp thuộc đủ mọi khuynh hướng trong giáo hội. Qua tình bạn của Lê Phước Sang, mọi người đều coi tôi như một phần tử trong đại gia đình Hòa Hảo. Riêng cụ Lương Trọng Tường, hội trưởng BTS trung ương giáo hội PGHH còn tin cậy trao cho tôi chức vụ “ giám đốc thông tin, báo chí”, tức một “ phát ngôn viên” của cụ. Vì mối liên hệ đặc biệt này, nên tôi đã bắt đầu quan tâm đến nguồn gốc giáo lý và các họat động cứu dân độ thế của đức Hùynh giáo chủ trong thời gian nhân dân đồ thán, đất nước chìm ngập trong khói lửa chiến tranh chống ngọai xâm. Xuyên qua tòan bộ thi văn, sấm giảng, do chính đức thầy đã truyền bá trong dân gian, tôi nhận ra giáo thuyết của ngài. Ngay giây phút va chạm tư tưởng đầu tiên với tư tưởng tín ngưỡng của giáo chủ, tôi đã cảm thấy dường như có một thứ ánh sáng huyền diệu nào đó đang lấp lánh, chẳng khác nào thứ ánh sáng của kim cương hay vàng khối còn nằm trong quặng mỏ. Tuy vốn là một kẻ đam mê khai phá, nhưng suốt khỏang thời gian dài đằng đẵng đã trôi qua, tôi vẫn không hề có ý muốn khai thác quặng mỏ tư tưởng tôn giáo hiếm qúi này của dân tộc. Một phần, vì đất nước đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh ý thức hệ, một thứ chiến tranh chẳng khác nào chiến tranh tôn giáo vô cùng khốc hại, bất nhân, khiến con người chống con người một cách vô cùng dã man, dù cùng chung một huyết thống, một chủng tộc. Bây giờ, sau 35 năm đất nước đã hòa bình và thống nhất - ” tam thập niên vi nhất biến, thương hải biến vi tang điền” ( ba mươi năm có một biến đổi, biển cả hóa thành ruộng dâu) - lòng người và trí khôn của nhân lọai đã thay đổi để hòa hợp và thích nghi với thời đại mới, tôi và TS Lê Phước Sang nhận thấy thời điểm này đòi hỏi tôn giáo nào cũng phải cựa mình,canh tân tư tưởng, nhìn lại giáo điều bằng một nhãn quan tân tiến, để cho tôn giáo không bị tụt hậu, không mất tin tưởng của quần chúng ngày càng được khoa học hướng dẫn đến văn minh và thực tiễn. Muốn chuyển hướng tư tưởng để đạt được mục tiêu lọi ích ấy, chúng tôi nhận ra được một nhiệm vụ vô cùng khó khăn mang tính khai sơn phá thạch là phải cấp thời vận động cho công cuộc truyền bá canh tân giáo hội, nâng cao tinh thần tín ngưỡng của tín đồ, và phát huy giáo lý của đức thầy trên chiều hướng hiện đại hóa, sánh ngang với các thuyết giáo lớn trên thế giới. Với công trình khảo sát các tôn giáo giáo lớn của nhân lọai từ thuở sơ khai cho đến nay vẫn còn tồn tại đã trên 3 ngàn năm, như các đạo: Du Già (Do Thái) giáo, Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Bà La Môn, Thiên Chúa La Mã, Cơ Đốc, Chính Thống giáo (Orthodoxe)…, chúng tôi nhận thấy một cách khá rõ rệt tính chất nhân bản và đặc tính dân tộc đã đóng khối chắc nịch trong giáo thuyết của Hùynh giáo chủ, cùng với những họat động truyền bá giáo lý, cầu nguyện, chữa bịnh cứu nhân độ thế, và đấu tranh cho dân tộc, cho công bằng bác ái…Tất cả những đặc tố ấy đã tô đậm nét tương đồng giữa cuộc đời của Hùynh giáo chủ với các bậc thánh nhân bất tử của nhân lọai như: Jésus Christ, Mahomet, hay Martin Luther (1483-1546), vị giáo chủ khai sáng Cơ Đốc Giáo (Protestantisme). Về mặt tư tưởng siêu nhiên và tinh thần tín ngưỡng tiềm ẩn trong cốt tủy giáo thuyết của Hùynh giáo chủ, ai đã từng nghiên cứu, rất dễ nhận ra, đều thấm nhuần sâu đậm màu sắc Khổng, Lão, Phật. Một hình thức hòa hợp êm đềm và rất nhịp nhàng có tính cách thuần túy Á Đông của “ tam giáo đồng môn”. Có nghĩa: ba tôn giáo được thờ chung dưới một mái nhà. Ngay đây, thiết tưởng, chúng tôi cần phải tạm dừng lại trong giây lát để minh giải hiện tượng đặc thù “ tam giáo đồng môn” trong lãnh vực tôn giáo của dân tộc VN và Trung Hoa. Bởi đã có một vài nhà nghiên cứu Phật học như qúi ông Trần Quang Thuận, TS Lê Hiếu Liêm, đã sai lầm thảm hại cho rằng “ tam giáo đồng nguyên”. Có nghĩa: ba tôn giáo cùng một gốc!Trong thơ gửi cho tôi, đề ngày 15.8.2002, điểm 13, ông Thuận viết:”Tam giáo đồng nguyên là con đẻ của Phật Giáo”. Trong sách “Bồ Tát Hùynh Phú Sổ và PG Thời Đại”, nơi trang 193, ông TS Liêm viết:”… ông còn mang thêm tinh thần Nho giáo, Lão giáo, và những tinh thần đặc thù của dân tộc: tam giáo đồng nguyên trong tình tự dân tộc, đó là nét đặc sắc của PGHH” (giòng 2-4), và :”… phù hợp với truyền thống bao dung và tổng hợp văn hóa của VN, như công thức tam giáo đồng nguyên đời Trần” (!) Theo sự hiểu biết rất thô thiển của tôi về tôn giáo, hai nhà học giả cao thâm Phật học: ông Thuận, tăng sĩ hòan tục, tác giả nhiều sách nghiên cứu về PG, ông TS Lê Hiếu Liêm , viện trưởng viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ đã viết câu :”Tam giáo đồng nguyên”. Đây là một sai lầm cực kỳ nghiêm trọng không thể nào chấp nhận được về cả 2 mặt tôn giáo và lịch sử tôn giáo. Vì vậy cho nên tôi không ngại mếch lòng nhị vị học giả uyên thâm Trần Quân Thuận và Lê Hiếu Liêm mà xin được nghiêm khắc tu chính như sau. Giả thuyết nếu nhị vị học giả nêu trên hay bất cứ ai trong hàng thức giả có khả năng dẫn chứng chính xác hơn và hộp lý hơn tôi xin cúi đầu lãnh giáo. Viết như vậy, tức nhị vị cho rằng cả 3 tôn giáo, gồm: Phật, Lão, Khổng đều cùng một nguồn gốc (đồng nguyên). Riêng Ông Thuận đã khẳng định sự thờ bái đạo Lão và Khổng đã do PG… đẻ ra! Đặc biệt hơn nữa, ông TS Lê Hiếu Liêm lại cho rằng:” công thức tam giáo đồng nguyên đời Trần”! Theo sự hiểu biết rất nông cạn , và vô cùng nghèo nàn của tôi về Hán Tự lẫn kinh điển PG, chữ NGUYÊN này (thuộc bộ Thủy, 13 nét), nghĩa là: nguồn gốc. Từ sự bất thông văn tự này, hai ông Thuận và Liêm đã bước thêm một bước vào chỗ hồ đồ. Ông Thuận gán phăng ngay cho ” tam giáo” là... ”con đẻ của PG”. Còn ông TS Liêm thì tỏ ra khoa học và tân tiến hơn, sáng tạo “ tam giáo đồng nguyên “ thành một “ công thức”- như công thức hóa học chăng?- của nhà Trần. Điều này chứng tỏ rõ rệt, mặc dù nhị vị học giả cao thâm Phật học đã dày công nghiên cứu giáo lý Phật và lịch sử tôn giáo của dân tộc VN mà vẫn chẳng hề biết rằng: từ xưa, ở VN vốn có nhiều chùa đã bắt chước Trung Hoa, lập bàn thờ chung cả Phật với Lão Tử và Khổng Tử. Hơn thế, có nhiều chùa còn thờ cả Trần Hưng Đạo và Quan Vân Trường (Quan Công) lẫn ông Địa! Vì thờ chung như thế, nên người ta mới gọi là:”Tam giáo đồng MÔN”(chữ Môn, bộ Môn, 8 nét) nghĩa là: cổng, cửa, dòng, phái, gia đình... Nghĩa cả câu là: cùng thờ cả 3 tôn giáo chung trong một mái chùa. Nói có sách, mách có chứng. Lai lịch tóm tắt như sau: Sau khi Thích Ca Mâu Ni tạ thế, các đệ tử trực truyền của ngài mới bắt đầu đem đạo Phật truyền bá ra ngoài vùng lưu vực sông Hằng (Gange), rồi lan dần ra ngoài biên giới Ấn Độ. Về phía Nam truyền tới các nước: Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Lào, VN... Về phía Bắc tới các nước: Tân Cương, Tây Tạng, Mông Cổ, A Phú Hãn, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản v.v... Theo sách Lý Hoặc Luận (Lihuolun) của Mâu Tử ( Mouzi), theo ” Lão Tử Hóa Hồ Kinh” và bài mở đầu của bộ ” Tứ Thập Nhị Chương Kinh”, vua Hán Minh Đế (58-75 sau TC) đã cử 1 phái đoàn sang nước Đại Nhục Chí (Scythia , thuộc Ấn Độ) để tìm hiểu về hiện tượng Phật xuất hiện. Khi về phái đoàn đem theo 2 vị tăng sĩ ngoại quốc (người Ấn Độ ) là: Kâcyapa Mâtanga và Zhu Falan, cùng với một bộ kinh Phật. Hai vị tăng sĩ này đã được nhà vua cho ngụ tại chùa Bạch Mã, để cùng hợp tác với các nhà trí thức Trung Hoa dịch kinh. Đó là bộ” Tứ Thập Nhị Chương Kinh”. Tất cả những việc ấy đều diễn ra trong khoảng thế kỷ I sau TC, năm 67. Nên biết chùa Bạch Mã vốn là một ngôi chùa cổ nhất Trung Quốc, xây cất cùng một lượt với ngôi cổ tự Hứa Xương. Đến thế kỷ II sau TC, đời Hoàn Đế, nhà Hậu Hán (trị vì từ năm 147 đến 167) đã thiết lập bàn thờ chung cả Lão Tử và Phật trong cung Quân Long. Chuyện này có ghi trong Hậu Hán Thư, bản Kỷ Luận. Sau đó, trong dân gian, các chùa đều bắt chước thờ chung cả Phật, Lão và Khổng. Nên biết đạo Lão và đạo Khổng vốn là 2 tôn giáo thuần túy của dân tộc Trung Hoa. Mỗi đạo đều có giáo lý riêng, và chủ thuyết khác nhau hòan tòan. Vậy, căn cứ vào đâu, nguồn gốc nào, mà qúi vị dám khẳng định khơi khơi ”tam giáo đồng nguyên”? Có thể vì sự thờ chung cả 2 ông Khổng và Lão trong chùa, nên nhị vị đã vội vàng suy luận rằng 2 đạo Khổng và Lão đã do PG đẻ ra và lập thành “ công thức” từ đời nhà Trần? Nếu quả thực qúi vị suy luận như thế, thì đó là một mối sỉ nhục lớn lao cho PG và cho cái mảnh bằng tiến sĩ vô cùng!Qúi vị đã không biết rằng trong lịch sử tôn giáo của nhân loại, kể từ thế kỷ 13 trước TC đến nay, tức trên 3 ngàn năm, độc nhất chỉ có PG, là một tôn giáo không gây chiến tranh, không tạo ra ”Thánh Chiến” không hề cưỡng bách bất cứ một ai cải đạo hay áp bức phải theo PG. Từ khởi thủy, PG truyền vào bất cứ nước nào cũng đều bằng hình thức hội nhập ôn hòa, tuyệt đối không gây hiềm khích hay bài bác bất cứ một tôn giáo nào khác. Bằng chứng rất dễ kiểm nhận: Khi PG truyền vào Tây Tạng, dân chúng bản địa đã có một nền tín ngưỡng riêng, dân tộc Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản cũng thế. Riêng ở Nhật, mãi đến năm 13 , thời Khâm Minh Thiên Hoàng (552 sau TC) PG mới bắt đầu chính thức xuất hiện ở Nhật. Đến năm 794, Nhật Bản dời đô từ Nại Lương đến Bình An (tức cố đô Kyoto ngày nay) PG Nhật mới lập ra ” Bình An Nhị Tông”, gồm Thiên Đài và Chân Ngôn. Lúc bấy giờ một số tăng sĩ của hai tông phái này mới phối hợp lễ nghi của PG với lễ nghi của Thần Đạo (Shinto), lập nên phái ” Thần Đạo Tập Họp”, tạo được một ảnh hưởng quan trọng, tốt đẹp lâu dài mãi cho đến tận ngày nay trong lịch sử văn hóa, tôn giáo của Nhật Bản.Trong khi đó, riêng dân Giao Chỉ hãy còn...vô đạo. Chỉ biết thờ ông bà tổ tiên! ( còn tiếp ) ĐẶNG VĂN NHÂM |