TƯỚNG KHÁNH QUẬY TÙM LUM! KHÁNH LẬT MINH CỒ!
(Foto: Tướng Khánh tiếp phái đoàn Mỹ)
Sau khi đã ngầm ra lịnh giết hai anh em ông Diệm- Nhu, tướng Dương Văn Minh lên ngôi Quốc Trưởng vào ngày 2. 11. 1963. Nhưng ông Minh chỉ giữ được chức vụ Quốc Trưởng trong vòng một thời gian ngắn ngủi, từ ngày 2. 11. 1963 đến ngày 30. 1. 1964. Sau đó, tuy ông Minh không bị hạ bệ ngay, song đã trở thành một thứ Quốc Trưởng bù nhìn "ngồi chơi sơi nước", mặc tình cho Nguyễn Khánh, với chức vụ thủ tướng, tha hồ thao túng. Lúc bấy giờ, tướng Nguyễn Khánh đang giữ chức vụ tư lệnh quân đoàn Hai, vùng Hai chiến thuật, đã thình lình tay không về Sài Gòn làm một cuộc "Chỉnh Lý" đoạt lấy chánh quyền trong tay ông Dương Văn Minh, chẳng khác nào như giựt viên kẹo trong tay đứa trẻ con ngớ ngẩn. Sở dĩ tướng Khánh đã thành công quá dễ dàng, và chỉ qua một đêm sáng hôm sau đã lên làm thủ tướng như chơi là nhờ âm mưu của Trần Thiện Khiêm, tư lệnh quân đoàn Ba, với sự tiếp tay của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, nguyên tư lệnh binh chủng nhảy dù, và thiếu tá Phạm Văn Liễu, nguyên tư lệnh thuỷ quân lục chiến. Sở dĩ Trần Thiện Khiêm đã chủ mưu trong vụ "chỉnh lý" này, vì ông ta vừa bị mất chức Tổng Tham Mưu Trưởng, phải xuống làm tư lệnh quân đoàn Ba. Trần Thiện Khiêm cho rằng như thế các tướng: Minh, Kim, Đôn, Xuân, Đính đã hùa nhau, để hất ông ta ra khỏi chức vụ tham mưu trưởng, nên ông ta "chơi" lại!
Theo lời ông Khánh tiết lộ: trong đêm thi hành đảo chánh, ông Khiêm đã cho ông ta chỉ có 5 phút để quyết định nhận chức thủ tướng. Sở dĩ ông Khiêm ép Nguyễn Khánh nhận chức thủ tướng, vì sợ lãnh tụ Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn sắp từ Pháp về nước, sẽ nắm mất chức vụ này, rồi kéo theo các sĩ quan Đại Việt như: Huỳnh Văn Tồn, Dương Hiếu Nghĩa, Phạm Văn Liễu v.v... tạo thành một thế lực để hất Trần Thiện Khiêm và các sĩ quan không đảng phái ra ngoài. Nhưng về sau, khi Nguyễn Tôn Hoàn đã về nước, giữ chức phó thủ tướng, và Nguyễn Ngọc Huy giữ chức đổng lý văn phòng một thời gian rồi, thì trong một buổi chuyện trò thân mật với các thân hữu, tướng Khiêm đã vui miệng nói huỵch tẹt: - "Tưởng Nguyễn Tôn Hoàn tài ba cỡ nào, chớ dè đâu dở như Hạch!... Nếu moa biết vậy thì để cho Phạm Ngọc Thảo làm thủ tướng còn hay hơn ngàn lần!"...
KHÁNH THÈM KHÁT CHỨC QUỐC TRƯỞNG! Khi đã lên ngôi thủ tướng, Nguyễn Khánh bỗng thấy ham, nên từ đó trước mắt ông ta chỉ có một mục tiêu duy nhất là phải làm đủ mọi cách, mọi trò, để vọt cho lẹ lên chức vụ chóp bu, nói theo kiểu cải lương Phùng Há, là làm "Chúa tể sơn hà, làm vua một cõi ", hay nói theo ngôn ngữ thời thượng lúc bấy giờ là "Quốc Trưởng", hay một chức vụ gì đó mà quyền uy vô địch như: Sở Bá Vương, Stalin, Mao Trạch Đông, hoặc như Hồ Chí Minh. Sở dĩ tôi không thể ví với tổng thống, hay thủ tướng các nước dân chủ Tây Phương, như De Gaulle, Mitterand, hay Eisenhower, Nixon v. v…Vì tham vọng của ông Khánh không giống các vị này chút nào! Muốn nhanh chóng đạt được tham vọng đó, ông ta đã quậy lung tung. Người ta còn nhớ, trong hai năm 1964 đến 65, rất nhiều vụ xáo trộn chánh trị, xã hội, và tôn giáo trọng đại, đã xảy liên tiếp khắp nơi trong nước. Đặc biệt, ngay giữa trung tâm thủ đô, các cuộc xuống đường võ trang dao, búa, gậy gộc, xung đột đẫm máu giữa tín đồ hai tôn giáo: Phật và Thiên Chúa đã xảy ra gần như hằng ngày. Trong hai ngày 23 và 24. 5. 64, toà Tổng Giám Mục đã ra hai thông cáo liên tiếp, nhấn mạnh chỉ khuyên giáo dân nên tránh biểu tình nhân ngày lễ Phật Đản. Ngoài ra, giáo dân tuỳ tiện chọn cách thức nào biểu lộ quan điểm thích nghi nhất. Thế là vài ngày sau, 7. 6. 64, 29 họ đạo Hố Nai và các vùng phụ cận Sài Gòn, cùng hàng vạn giáo dân đô thành tụ tập biểu tình tại công trường Lam Sơn, căng những biểu ngữ đáng quan tâm như: "Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng để đàn áp công giáo", "Mị dân là phản bội dân chủ", " Ủng hộ cuộc tranh đấu của công giáo miền Trung" v. v… Nhưng lộn xộn nhất, và cũng tiếu lâm nhất là vụ "Hiến Chương Vũng Tàu". Sau khi đã chế ra cấp "chuẩn tướng", ông Khánh ban phát vung vít cho các đại tá, để họ được tham gia Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, làm hậu thuẫn cho ông. Ngày 16. 8. 64, tướng Khánh triệu tập phiên họp Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (HĐQĐCM) ở Vũng Tàu, ban hành một hiến chương mới, bầu trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ Tịch VNCH. Theo hiến chương này, chủ tịch kiêm quyền Quốc Trưởng, với nhiều quyền hạn đặc biệt. Sã triệu tập một Quốc Hội lâm thời, gồm 100 hội viên dân sự, và 50 hội viên quân nhân, do HĐQĐCM chỉ định. Trong khi đó Hội Đồng Quân Đội CM vẫn là cơ chế tối cao, mà ông Khánh đang làm chủ tịch. Như vậy, một mình tướng Khánh đã ôm luôn một lúc ba chức vụ tối cao của chánh quyền, gồm cả dân sự lẫn quân sự: Chủ tịch Hồi Đồng Quân Đội Cách Mạng, Chủ tịch VNCH, và thủ tướng chánh phủ! Cách một ngày sau, 18. 8. 64, các địa phương, các đoàn thể chánh trị, đảng phái QG xôi thịt lật đật gửi điện văn và kiến nghị "Nhiệt liệt hoan nghinh hiến chương ban hành đúng lúc, và kính dâng lên trung tướng chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt, nguyện đồng tâm nhất trí đoàn kết sau lưng ngài…". Nhiều báo được chỉ thị của bộ Thông Tin đăng tải rộng rãi! Tuy nhiên, giới sinh viên học sinh lại không ủng hộ, tổ chức hội họp, thảo luận lung tung về bản hiến chương mới ban hành. Cuối cùng, ngày 22. 8. 64, một số khá đông sinh viên kéo nhau tới phủ thủ tướng trao kiến nghị phản đối hiến chương Vũng Tàu. Buổi trưa, tướng Khánh ra cổng phủ Thủ Tướng tiếp đại biểu sinh viên. Trước đám sinh viên biểu tình đông đảo, khi nghe có tiếng hô: "Đả đảo Nguyễn Khánh!". Tức thì tướng Khánh cũng cuống quít hô theo:"Đả đảo Nguyễn Khánh!”. Khiến cả đám cùng cười rộ khoái trá. Không khí cuộc biểu tình bỗng hoá thành một trò hề, buồn cười không chịu được! Nhưng ngay chiều tối hôm đó, đài phát thanh lại loan tin: Sinh viên kéo đến Phủ Thủ Tướng để trao kiến nghị ủng hộ hiến chương Vũng Tàu, khiến hôm sau, 23. 8. 64, một đám đông sinh viên và học sinh lại kéo nhau đến đài phát thanh để phản đối, đòi cải chánh, và đập phá đồ đạc lung tung, gây thiệt hại khá nặng. Sau đó, ngon trớn, sinh viên học sinh kéo tới bộ Thông Tin chất vấn tổng trưởng và thứ trưởng, đồng thời lại đập phá một lần nữa. Đến 3 giờ chiều cùng ngày, một nhóm khoảng trên 200 người, không biết thuộc phe nhóm nào, võ trang dao, mác, gậy gộc, kéo tới trụ sở sinh viên ở đường Duy Tân, kiếm sinh viên, nhưng họ đã trốn biệt, nên nhóm người này hè nhau đập phá đồ đạc và đốt hết giấy tờ trong văn phòng để trả thù! Ngày 25. 8. 64, hàng ngàn người thuộc đủ mọi thành phần lại tụ tập biểu tình ở chỗ tượng Quách Thị Trang, trên Bùng Binh trước chợ Bến Thành, rồi kéo nhau tới Phủ Thủ Tướng, hô đả đảo hiến chương Vũng Tàu và đả đảo độc tài v. v… Đến trưa, tướng Nguyễn Khánh và phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, một tên CS nằm vùng, chồng nữ diễn viên kịch ảnh Thẩm Thuý Hằng, phải ra cổng, nói đôi lời phủ dụ, và hứa sẽ xét lại vấn đề… Ngày hôm sau, 26. 8. 64, không khí bất an và sôi động lại bùng nổ dữ dội khắp đô thành. Nghe tin đồn sẽ có biểu tình phá VN Quốc Tự, phá tượng Quách Thị Trang, và phá nhà thờ Đức Bà, các Phật tử và con chiên lại hè nhau võ trang dao, búa, gậy gộc, kéo đến ba nơi trên để canh gác và bảo vệ. Nhắm coi bộ nuốt khó trôi vụ này, HĐQĐCM đã phải họp khẩn trương liên tiếp mấy ngày, đến hôm nay đành ra tuyên cáo: Thu hồi hiến chương Vũng Tàu, nhưng lại lập ra một cơ chế khác là: Uỷ Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Quốc Gia và Quân Lực, với Tam Đầu Chế gồm: Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, và Dương Văn Minh. Lúc một giờ trưa, khi HĐQĐCM còn đang họp trong bộ Tổng Tham Mưu (TTM), một nhóm chừng vài ngàn người từ các vùng ngoại ô, võ trang dao, mác, búa, gậy gộc, trưng biểu ngữ " Ủng hộ HĐQĐCM, chống Cộng và Trung Lập, chống vụ phá hoại đài phát thanh và bộ Thông Tin, chống âm mưu chia rẽ" v. v… kéo nhau xông vào BTTM đòi gặp HĐQĐCM. Quân cảnh ngăn cản không được, còn bị hành hung, nên đã phải xả súng bắn chết bốn người, gây bị thương 11 người. Về phía quân cảnh, một binh sĩ bị chém, một số khác bị thương. Cùng thời gian đó, lúc 2 giờ, một đoàn người tương tự, không hiểu thuộc phe nhóm nào, kéo đến đài phát thanh đói phát thanh bản tuyên ngôn. Khi đoàn biểu tình này đi ngang qua trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ xung đột với học sinh trường này, có học sinh Cao Thắng tiếp viện, khiến 13 người bị thương, và 8 người trong đoàn biểu tình bị học sinh bắt giữ trong trường. Lát sau đoàn biểu tình trở lại đòi thả 8 người bị bắt, và xung đột với học sinh lần nữa. Lần này có hai học sinh đã bị đâm chết. Linh mục Hồ Văn Vui và TT Thích Tuệ Đăng phải đích thân tới hoà giải mãi đến 8 giờ tối mọi người mới chịu giải tán. Tối hôm đó, các khu TCG ở Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động, đám đông thanh niên chia nhau ra canh gác các đầu đường vào xóm đạo. Tại khu Viện Hoá Đạo và chỗ tượng Quách Thị Trang cũng thấy có nhiều toán thanh niên Phật tử canh gác. Mấy ngày hôm sau, không khí xách động vẫn còn sôi nổi và căng thẳng cực độ. Cảnh sát đã bắt một số người gây bạo động, nghe đâu lên tới hàng trăm, trong đó có cả thành phần du đãng chuyên nghiệp. Ngày 28. 8. 64, hàng trăm người võ trang dao, búa, gậy gộc kéo tới tấn công trường Nguyễn Bá Tòng. Thanh niên TCG kéo tới giải vây. Hai bên xáp lá cà. Đến khoảng 5 giờ rưỡi, đoàn người tấn công trường Nguyễn Bá Tòng được tăng viện đông hơn, tràn vào trường đập phá toà soạn báo Xây Dựng và nhà in. Xe của giám mục Nguyễn Văn Thiên đến hoà giải cũng bị tấn công luôn. Quân đội phải tới giữ trật tự. Đến tối, nhiều toán người khác lại kéo tới đánh phá, trong số có cả du đãng. Cuối cùng, đến 11 giờ đêm, lính nhảy dù phải nổ súng mới giải tán được. Kiểm điểm cuộc loạn đả này đã gây thiệt mạng cho hai người, và khiến cho 48 người khác bị trọng thương phải đưa vào nhà thương điều trị. Trước tình cảnh hỗn loạn, có thể biến thành cuộc chém giết lẫn nhau gĩưa tín đồ hai tôn giáo Phật và TC, toà Tổng Giám Mục và Viện Hoá Đạo đã phải ra thông cáo chung, khuyên hai bên giáo đồ hãy bình tĩnh, tránh mọi xách động. Báo giới thủ đô và toà Đô Chánh cũng kêu gọi tín đồ hai tôn giáo nên giữ hoà khí và tôn trọng trật tự chung. Về phía Viện Hoá Đạo còn phải ra thêm thông cáo riêng nói rõ: Kể từ nay VHĐ sẽ không chịu trách nhiệm gì về các vụ bạo động. Nguyện vọng của PG đã được thoả mãn, cuộc vận động đã chấm dứt. Sự ra đời của thông cáo này cho chúng ta thấy đã có sự rạn nứt trầm trọng trong nội bộ PG, giữa hai phe Ấn Quang và VNQT, tức phe Thích Tâm Châu và Trí Quang, mặc dù trước đó không lâu hai nhà tu này đã ra thông cáo minh xác: "Không có sự rạn nứt giữa hai anh em chúng tôi!" Ngày 9. 9. 64, bốn quân nhân trong chánh phủ Nguyễn Khánh gồm: Đại tướng Tr. Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, thiếu tướng Ng. Văn Thiệu, và đại tá Trần Ngọc Huyến, đồng loạt từ chức. Tiếp theo, các tổng trưởng dân sự: Bùi Tường Huân (giáo dục), Trần Quang Thuận (xã hội) cũng rút ra khỏi chánh phủ, báo hiệu một sự đổ vỡ trầm trọng, và ông Khánh càng cố vùng vẫy để nắm níu quyền lực bao nhiêu lại càng tạo thêm oán thù và thất dân tâm bấy nhiêu. Tư thế của ông ngày càng bị trói buộc chật hẹp, chẳng khác con khỉ đột Tôn Ngộ Không, tục gọi "Ông Tề", đã bị cái mão Kim Cô của Đường Tam Tạng tròng vào đầu. Đối với Mỹ, bây giờ Nguyễn Khánh đã trở thành kẻ thù của Taylor. Còn Trần Thiện Khiêm, từ vị trí một ân nhân, nay đã biến thành một đối thủ nguy hiểm. Riêng đối với quần chúng, Nguyễn Khánh đã trở thành kẻ phá hoại, gây chia rẽ tôn giáo, làm xáo trộn an ninh và trật tự xã hội, để củng cố địa vị chánh trị. Bấy giờ trước mắt của Nguyễn Khánh đã hiện ra một ngõ cụt! Cuối cùng Nguyễn Khánh đành phải dọn cho mình một con đường thoát thân đầy mạo hiểm, nhiều bất trắc là: bắt tay với kẻ thù CS. Nguyễn Khánh bắt đầu mở đường giây liên lạc với MTDTGPMN ở Paris, qua trung gian của Phùng Há, Kim Cương và Thanh Nga... Đồng thời ở trong nước, khoảng tháng Giêng, năm 1965, Nguyễn Khánh ra lịnh cho phóng thích một số đông cán bộ CS cao cấp, trong đó có cả Bùi Thị Nga, vợ của Huỳnh Tấn Phát. Nguyễn Khánh ra lịnh thả Bùi Thị Nga vào ngày 14. 1. 1965. Để lấy lòng Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh còn viết thêm một lá thư riêng, trao tay cho Bùi Thị Nga nhờ chuyển lại cho Huỳnh Tấn Phát. Trong thơ Nguyễn Khánh đã đề nghị hợp tác với MTGP và CSBV. Muốn cho bức thơ ấy không bị lọt vào tay của CIA Mỹ, Nguyễn Khánh đã cẩn thận cho một đoàn võ trang hộ tống vợ của Huỳnh Tấn Phát vào tới điểm hẹn trong mật khu. Ngày 28. 1. 1965, Huỳnh Tấn Phát gửi thơ trả lời Nguyễn Khánh, khen ngợi lập trường, đường lối của Nguyễn Khánh là sáng suốt và hân hoan đón chờ hợp tác với Nguyễn Khánh. Khi nhận được thơ hồi đáp của Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh đã vui mừng, phấn khởi vô cùng, cứ tưởng rằng CIA Mỹ không thể hay biết được. Ông ta còn hí hửng đích thân lái xe đến nhà tướng Trần Văn Đôn khoe chuyện này. (xem hồi ký của Trần Văn Đôn). Nguyễn Khánh không ngờ: Từ lâu Taylor đã báo cáo về Hoa Thịnh Đốn tất cả những hành động quậy phá, làm bấy nhậy chính tình miền Nam của Nguyên Khánh. Nay Taylor lại có thêm báo cáo của CIA chứng minh hành động "đi đêm" rất nguy hiểm của Nguyễn Khánh, liền báo cáo về Hoa Thịnh Đốn, với đề nghị hạ bệ tướng Khánh. Nhưng vụ thảm sát hai anh em ông Diệm và Nhu hãy còn quá mới mẻ, dư luận quần chúng Mỹ, và các nơi trên thế giới chưa dứt xúc động, nên người Mỹ không muốn bị ràng buộc trách nhiệm vào một cuộc đảo ôngnh đổ máu nữa ngay trong giới tướng lãnh là thành phần đã từng làm công cụ cho họ lật đổ ông Diệm. Người Mỹ chỉ muốn tung ra những "hư chiêu" để hù doạ và hạn chế cuồng vọng của Nguyễn Khánh mà thôi. Dù vậy, tướng Khánh thấy thế cũng đâm hoảng, bèn tìm đường ẩn thân an toàn. Trong hệ thống quyền lực ở miền NamVN thời bấy giờ, chỉ có một chỗ an toàn độc nhất, lại có thể sống lâu giàu bền hơn hết là chức vụ “Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH“. Chức này tướng Khiêm đang ngồi chễm chệ. Vậy làm sao có thể bứng tướng Khiêm ra khỏi chiếc ghế đó? Với đầu óc chứa đầy mưu mẹo vặt, tướng Khánh đã thương lượng với tướng Dương Văn Đức, một con người võ biền, nông nổi, ngang bướng, và nhiều tham vọng. Bởi thế cuộc "biểu dương lực lượng" ngày 13. 9. 1964 của tướng Dương Văn Đức mới xảy ra.
BIỂU DƯƠNG LỰC LƯỢNG
Vì những lý do căn bản đã kể trên, nên tướng Dương Văn Đức, tư lệnh quần đoàn Bốn, đã không chuẩn bị trước một kế hoạch hành quân qui mô nào. Mãi đến nửa đêm về sáng ngày 13. 9. 64, tướng Đức mới thình lình tập họp một số sĩ quan thuộc hạ, và quen biết, để điều động một lực lượng binh sĩ không đáng kể tiến vào đô thành để "biểu dương lực lượng" rồi rút lui êm thắm nội trong ngày, không một tiếng súng. Trong số ít oi sĩ quan tham gia, có người mới được rỉ tai cho biết vào giờ chót, có người bị cưỡng bách hoặc miễn cưỡng phải đi theo. Thí dụ như trường hợp của tướng Lý Tòng Bá, mà ông đã kể trong hồi ký" 25 năm khói lửa" (từ trang 106 đến trang 116) như sau: "Trung tá Đỗ Kiến Nhiễu, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Mỹ Tho qua điện thoại mời tôi đến trình diện trung tướng Đức tại tư dinh. Lúc đó vào khoảng 5 giờ sáng ngày 13. 9. 64. Còn đang ngái ngủ, tôi được vợ gọi dậy vội vàng lái xe đến gặp ông tướng tư lệnh… Trong lúc ấy, Tr. t. Nhiễu từ phía trong đi ra, tôi lén hỏi khẽ: ´Anh Nhiễu có chuyện gì vậy?`. Nhiễu trả lời, tôi cũng chẳng biết gì hơn anh, cứ đợi thôi… Sau đó tướng Đức bảo tôi lái xe Jeep cùng đi với ông lên Sài Gòn. Tôi, một chiến đoàn trưởng thiết giáp, lúc ấy trở thành anh tài xế bất đắc dĩ!... Đến cầu Tân An, gặp đại tá Phạm Anh, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Long An. Phạm Anh cũng giống như tôi được tướng Đức mời đến gặp… Anh kề tai tôi hỏi khẽ: ´Có cái gì vậy?`, một câu không khác gì tôi đã hỏi ông Nhiễu trước đây tại Mỹ Tho. Thế là ai nói sao tôi nói vậy, tôi nói: ´Thì anh cứ đợi lệnh thôi! Tôi cũng chẳng biết gì hơn anh`. Đối với tôi đó là một câu trả lời thật tình. Sau đó trung tướng Đức ra lệnh cho Phạm Anh ở lại Long An với nhiệm vụ lo giữ an ninh cho các cây cầu chiến lược, còn tôi và ông lại tiếp tục lên đường… Xe chạy một đỗi đến cầu Bến Lức, ông Đức bảo tôi ngừng lại một lần nữa ở đầu cầu… Tướng Đức ra lịnh cho tôi tiếp tục lái lên bộ chỉ huy một tiểu đoàn Công Binh nằm cạnh quốc lộ 4 thuộc quận Bình Chánh. Ở đó chúng tôi lần lượt gặp tướng Lâm Văn Phát, thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa v. v… Mấy ông này từ Sài Gòn xuống. Như vậy bộ chỉ huy và tham mưu đảo chánh đã chuẩn bị và hẹn gặp nhau tại Bình Chánh, sau khi đồng ý với nhau phải ngăn chận ông Khánh với ý đồ trung lập hoá miền Nam, mà lần đầu tôi nghe thấy! * Ghi chú riêng của ĐVN: Theo tôi, đó chỉ là một ´ Énguỵ cớ`. Vấn đề trung lập hoá miền Nam đâu có giản dị thực hiện và thảo luận khơi khơi trong chốc lát, rồi hè nhau chống đối như trò chơi vậy. Người Mỹ để đâu? Quần chúng ở đâu? Từ Bình Chánh kéo thẳng đến bộ chỉ huy tiểu khu Gia Định, nơi đây làm bản doanh của phe đảo chánh chống tướng Nguyễn Khánh, đương giữ vai trò thủ tướng… Sáng sớm hôm sau, khi được tin hai ông Khánh và Đức đã đồng ý đi đến một thoả thuận êm đẹp và ´mạnh ai về nhà nấy`... Chuyện như vậy tôi tưởng là xong, nhưng vài ngày sau đó, những tướng tá tham dự vào cuộc đảo chánh ´hụt` lần lượt được nha An Ninh QĐ mời lên Sài Gòn để điều tra, để rồi tất cả đều bị tống giam…. Vì những chuyện khó tin nhưng có thật, lại chưa từng xảy ra trong một đạo quân nào trên thế giới ngày nay, nên còn có dư luận khác trong giới tướng lãnh cầm quyền miền Nam lúc bấy giờ cho biết ( ôi xin ghi lại đầy đủ để rộng đường dư luận): Theo tôi đây chỉ là một cuộc ´móc ngoặc` tay đôi giữa tướng Khánh và tướng Đức. Miền Nam ai cũng biết tướng Khánh, là người tâm địa gian trá, quay quắt vô thường, lại hay dùng các thủ đoạn lặt vặt, còn tướng Đức là người nông nổi, hữu dõng vô mưu, thiếu ý thức chánh trị, nên đã dễ dàng mắc mưu Nguyễn Khánh, chấp nhận đứng ra làm một cuộc đảo chánh dàn cảnh, để tạo cớ cho Nguyễn Khánh tống khứ Trần Thiện Khiêm ra khỏi chức vụ tổng tư lệnh quân đội VNCH, rồi chiếm lấy ghế đó cho vững chân hơn. Sở dĩ tướng Khánh phải mưu đồ chuyện phức tạp này, vì ông ta đã "đánh hơi" được quyết định của toà Bạch Ốc và thái độ của đại sứ Taylor. Trong tình cảnh nguy nan đó, tướng Khánh nhận ra chỉ còn con đường sinh tồn duy nhất là nắm lấy quân đội, dùng làm nơi trú ẩn an toàn. Nên nhớ, vào thời bấy giờ các tướng lãnh đều sợ những chức vụ "tướng không quân", hay còn nói là tướng "ngồi chơi xơi nước"! Kể từ sau cuộc chính biến năm 1963, bà Trần Thiện Khiêm đã từng khuyên chồng chỉ nên nhận những chức vụ nào có binh quyền trong tay, để dễ ăn hối lộ, và để khỏi bị đảo chánh bất ngờ. Hai bên - tướng Nguyễn Khánh và tướng Dương Văn Đức - đã thoả hiệp với nhau nhiều điều kiện, kể cả thành phần sĩ quan tham gia cuộc động binh. Nhưng Nguyễn Khánh là con cáo già, nhiều mưu vặt, lại vốn tánh đa nghi như Tào Tháo, còn đặt thêm cho Dương Văn Đức một điều kiện là: Dương Văn Đức chỉ được kéo quân về tới Phú Lâm, hay Gia Định, rồi án binh bất động tại đó, cấm vượt qua các cầu vào Đô Thành, để đưa ra yêu sách vắn tắt như sau: - Giải nhiệm chức tổng tư lịnh quân đội của Trần Thiện Khiêm, trục xuất Khiêm ra nước ngoài, vì Khiêm không được sự ủng hộ của quân đội. - Không cho các tướng:Đôn, Kim, Xuân, Đính đang bị quản thúc ở Đà Lạt về. - Lập một chánh phủ mạnh. - Trục xuất Phạm Ngọc Thảo ra khỏi nước. Sở dĩ Nguyễn Khánh không dám cho phép Dương Văn Đức kéo quân thẳng vào đô thành chiếm các yếu điểm quân sự cùng với các cơ quan chánh phủ đầu não như các cuộc binh biến khác, vì Nguyễn Khánh sợ Dương Văn Đức thừa cơ chơi trò " LỘNG GỈA THÀNH CHÂN" thì làm sao Khánh thoát thân cho kịp?! Dù vậy, "cẩn tắc vô ưu". Trước ngày động binh đã hẹn, Nguyễn Khánh cũng vọt lên Đà Lạt, nằm nghỉ ngơi ở đó cho chắc ăn hơn. Theo tôi điều này khá hợp lý. Vì tôi đã từng sát cánh với đại tá Phạm Ngọc Thảo, đại tá Đặng Như Tuyết, trung tá Lê Hoàng Thao, và một số sĩ quan khác tham dự từ đầu đến cuối hai cuộc đảo chánh 19. 2 và 20. 5. 65, nên tôi thấy việc chuẩn bị một cuộc "đảo chánh thực sự" đòi hỏi nhiều công lao nghiên cứu, nhiều phối hợp tinh vi và chặt chẽ về mọi mặt, từ lực lượng quân sự, kế hoạch tấn công, đến tin tức tình báo… Đặc biệt người cầm đầu đảo chánh còn phải theo dõi kỹ càng từng đường đi nước bước, nhất cử nhất động của"đối tượng". Để thực hiện cuộc đảo chánh ngày 19. 2, đại tá Phạm Ngọc Thảo đã phải vận dụng đến sự tiếp tay của người Mỹ, và của ông Phan Huy Quát, để “lùa con mồi vào bẫy" đã căng sẵn, đúng theo ngày giờ đã hoạch định chu đáo từ trước, thế mà vào phút còn bị sổng huống là! Khởi đầu, nhóm sĩ quan đảo chánh của Dương Văn Đức chỉ loe ngoe có mấy tay như: Tạ Thanh Long, Trần Vĩnh Đắc, tục danh là Đắc Hèo, chuyên môn đánh lính, cùng với mấy ông sĩ quan Đại Việt như: Dương Hiếu Nghĩa, Phạm Văn Liễu, Huỳnh Văn Tồn, đã một thời nổi danh rất xông xáo, chỗ nào động tịnh đảo chánh người ta cũng thấy sự hiện diện của các ông, và thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, mới từ chức Đô Trưởng vài ngày, để ông già Hương lên thay. Tướng Dương Ngọc Lắm vốn là em rể của tướng Đỗ Cao Trí, và Đỗ Cao Minh... Về sau tướng Dương Ngọc Lắm có một người vợ khác, bà này hiện đang lấy một ông tây già, và làm chủ một nhà hàng Việt Nam, tên "Grain de riz", ở vùng Nam Pháp, giáp ranh biên giới Monaco. Cách nay 5 năm, tôi đã đến nhà hàng này ăn, và chuyện trò với bà quả phụ Dương Ngọc Lắm khá lâu. Tôi thấy bà còn trẻ đẹp và duyên dáng. Bà đã có một người con trai duy nhất năm nay khoảng chừng 40 tuổi, chắc chắn không phải là con của ông tây già mà tôi đã nói ở đoạn trên. Tôi không hiểu bây giờ người đẹp của tướng Dương Ngọc Lắm còn lấy ông tây già kia hay không, và nhà hàng "Grain de Riz" có còn tồn tại hay không? Nhưng sự cố đã biến chuyển bất ngờ vào giờ chót, khi tướng Dương Văn Đức kéo thêm tướng Lâm Văn Phát nhập cuộc, mới khiến cho âm mưu thoả hiệp giữa Khánh và Đức đổ bể tùm lum. Tướng Phát cũng vừa từ chức Tổng Trưởng Nội Vụ, vì bất mãn với tướng Khánh, và hiện còn đang lêu bêu. Lòng căm hận tướng Khánh chưa nguôi, nên khi vừa được tướng Đức cho tham gia nhóm đảo chánh, với trách vụ chỉ đạo chánh trị và phát ngôn viên, tướng Lâm Văn Phát bắt đầu quậy ngay, theo dự kiến của riêng mình. Ông ra lịnh cho một số đơn vị kéo quân rốc vào thủ đô chiếm đài Phát Thanh, nha giám đốc Bưu Điện, Tổng Nha Ngân Khố, và phủ Thủ Tướng... Hơn thế nữa, tướng Phát lại còn lên đài phát thanh nặng lời xỉ vả tướng Khánh thậm tệ, cho hả cơn thù hận. Mặc dù ông ta thừa biết lúc đó tướng Khánh đang an toàn trên Đà Lạt. Nếu là một cuộc đảo chánh thực sự, tức một cuộc tranh chấp sắt máu, một sống hai chết, chẳng ai dại dột đến mức tiếp tục tấn công quờ quạng vào "đối tượng", khi chính sinh mệnh của mình đang nằm trong bàn tay quyết định của nó bao giờ! Dĩ nhiên, trên Đà Lạt, tướng Khánh cũng lên đài phát thanh, lên án hai tướng Đức và Phát, với giọng ôn hoà và bình tĩnh khác thường. Sáng hôm sau, 14. 9. 64, mấy đơn vị của tướng Đức đã lặng lẽ rút dần ra khỏi đô thành. Suốt ngày 13 và 14. 9. 64, dân chúng vẫn sinh hoạt bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Bộ Ngoại Giao HK tuyên bố: Chánh phủ HK vẫn ủng hộ tướng Khánh. Hôm sau, 15. 9. 64, Tướng Dương Văn Đức nhẹ nhàng tuyên bố: Không có đảo chánh, chỉ "biểu dương lực lượng" để cứu vãn uy tín cho chánh quyền và quân đội, đồng thời chống lại sự trở về của năm tướng bị an trí ở Đà Lạt. Hôm này tôi đã có mặt ở Cần Thơ và đã có dịp gặp bà Ilse Meyfarth. Tôi ngạc nhiên thấy bà không có vẻ gì lo ngại trước biến cố sôi động vừa do chồng bà tạo ra. Tôi nghĩ có thể bà không biết. Nhưng không ngờ khi tôi hỏi đến, bà thản nhiên trả lời vắn tắt: ´Cela s´arrangera!` (Việc đó rồi sẽ ổn thoả thôi!). Sau này, ở hải ngoại, đọc hồi ký ´VN Nhân Chứng` của tướng Đôn, tôi càng vững tin hơn vào sự tìm hiểu của mình. Sau đây là nguyên văn lời của tướng Đôn: ´Theo tôi tìm hiểu sau này, thì biến cố 13. 9. là do trung tướng Khánh ´monter` với các tướng Đức, Kỳ, Thi, mục đích là để quất ông Khiêm, ông Minh và bọn chúng tôi. Nhưng vào giờ chót, ông Đức liên lạc với tướng Phát. Khi tướng Phát nhảy vô tham dự mới nhận thấy mục tiêu của ông Khánh quá hèn vì thế ông Phát mới lên đài phát thanh chửi ông Khánh và để phá hoại kế hoạch của Khánh, ông Phát vạch trần việc ´coup monté` nầy chỉ để quất ông Khiêm. ` (trg 318). Ngày 16. 9. 64, tướng Nguyễn Khánh về Sài Gòn, ra lịnh điều tra các tướng tá liên can trong vụ "biểu dương lực lượng" (BDLL) gồm: Trung tướng Dương Văn Đức, thiếu tướng Lâm Văn Phát, thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, đại tá Huỳnh Văn Tồn, trung tá Dương Hiếu Nghĩa. Như đã dự liệu, hơn một tháng sau, ngày 23. 10. 64, hai mươi tướng tá tham gia cuộc BDLL, ngày 13. 9. , đều được toà án QSMT tha bổng. ´Cựu tướng Nguyễn Ngọc Lễ ngồi ghế chánh án toà án quân sự đã tuyên bố tha bổng vì không đủ lý do để buộc tội mà kết luận cho là một cuộc` biểu dương lực lượng ´không hơn không kém khiến các tướng tá đảo chánh nhảy lên ôm nhau vui mừng`. (25 năm khói lửa, LTBá, trg 114). Nhưng ngay hôm sau, đại tướng Trần Thiện Khiêm phải lập tức thu xếp khăn gói qua HK làm đại sứ. Mười ngày sau nữa ông Trần Văn Hương được thay thế Nguyễn Khánh lập nội các mới. Còn tướng Khánh đạt được mục tiêu mong đợi là giữ chức Tổng Tư Lệnh quân đội VNCH.
TƯỚNG ĐỨC ĐIÊN THẬT HAY GIẢ ĐIÊN?
Sau khi bị giải ngũ, người ta thấy tướng Dương Văn Đức thường uống rượu say, rồi giả khùng giả điên chửi bới lung tung. Người thì cho là tướng Đức điên thật. Người khác lại quả quyết ông chỉ giả điên. Thật khó mà kiểm chứng. Theo tôi, điên thật hay giả điên có lẽ chỉ một mình ông Đức biết lấy ông mà thôi. Nhưng có điều hành động điên khùng thình lình của tướng Đức, vì nhẹ dạ cả tin lời hứa hẹn ngon ngọt của tướng Khánh, khiến phút chốc tiêu tan cả cuộc đời binh nghiệp, đã tăng cường thêm lý cớ vững chắc cho sự tìm hiểu của tôi kể trên. Tướng Đức điên và uống rượu. Nhưng ông lại không uống nhiều như một đệ tử Lưu Linh, hay một bợm nhậu ´hũ chìm`. Theo tôi, lượng rượu mà ông uống mỗi ngày không đủ khiến ông điên, hay làm cho ông mất trí. Vậy, nhất định cái nguyên nhân đã khiến ông điên không phải rượu. Nó nằm ở chỗ khác, kín đáo hơn, u uất hơn! Nơi mà gần như ngày nào ông cũng la cà để uống rượư "không trả tiền" là nhà hàng Givral và Brodard trên đường Tự Do (Catinat cũ). Ông thường xà vào ngồi cùng bàn với anh em chúng tôi, gồm đủ hạng người, nào là dân biểu, nghị sĩ, thương gia, kỹ nghệ gia, chủ báo, ký giả ngoại quốc, sĩ quan tình báo v.v... Những nơi này thường được gọi là "Radio Catinat". Mỗi lần ngồi chung như thế, chúng tôi thường có lệ trả tiền theo kiểu Mỹ!. Ông Đức kêu bồi bàn đem đến cho ông một cái "consommation" và cái bông tính tiền ly rượu do ông ký tên trao lại cho người bồi, đem vào nạp cho viên quản lý ngồi trong két. Với một ly rượu như thế, ông có thể ngồi hết giờ này sang giờ khác. Chúng tôi ít khi trả tiền rượu cho ông. Có một điều tôi rất lấy làm ngạc nhiên và thắc mắc, mà vị lịch sự tôi không bao giờ hỏi thẳng ông là: bất kỳ lần nào ông ngồi vào bàn, dù là sáng sớm lúc chưa điểm tâm, tôi cũng đã thấy ông "sỉn" rồi. Ông nói năng líu nhíu, mắt đờ đẫn, quần áo xốc xếch, chân lê đôi dép lẹp xẹp, chân nọ đá chân kia. Lẽ nào ông đã đong rượu sớm như thế?! Một vị tướng khác, tôi biết thường "xúc miệng" mỗi buổi sáng bằng Hennessy pha với Sô Đa là tướng Nguyễn Ngọc Loan. Thỉnh thoảng có việc phải vào văn phòng Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, gặp tướng Loan, sáng sớm, tôi đã thấy trên bàn của ông có sẵn một ly "trà đá" (consommation, Hennessy pha với sô đa)! Ông Loan có một đặc điểm uống rượu như uống trà, thế mà không mấy khi tôi thấy ông... sỉn. Và ông cũng chẳng điên chút nào! Có nhiều lúc ông Đức đã tỏ ra tỉnh táo như một người bình thường. Tôi còn nhớ một hôm nọ, tên dân biểu gốc Tàu, đắc cử đơn vị quận nhì, tên là Lâm Minh Lê, với dấu hiệu: "CON NGÀ CHỐNG NGÁY!" (con gà trống gáy), thấy ông Đức đang ngồi đấu láo với chúng tôi, nó liền chạy a vào, ôm vai ông Đức ra chiều thân thiện. Tôi biết anh Chệt điếm đàng này đã lâu lắm rồi, kể từ hồi nó còn làm đầu nậu cho nhà hàng khiêu vũ Văn Cảnh, ở quận Nhì. Nó cũng quen biết chút đỉnh với người anh của tướng Đức, chủ vựa rau cải ở chợ Cầu Ông Lãnh. Khi ra ứng cử hội đồng đô thành cùng lượt, cùng đơn vị quận nhì với tôi và Hồ Ngọc Cứ, thời tướng Râu Kẽm làm thủ tướng tổ chức, hắn lên diễn đàn nói chuyện với cử tri người Việt mở đầu bằng câu bất hủ: "Kính thưa uý lòng pào"... Mấy đứa con nít kể cả người lớn bên dưới nghe thấy tức cười quá, hò reo la lối vỡ lở, khiến nó càng thêm cuống quít, vội nói luôn: - Hà, cái lầy kính thưa uý vị thằng nhỏ lớ!... Ối chao lúc ấy con nít người lớn đã được một phen cười té nghiêng té ngửa! Bây giờ Lâm Minh Lê đang làm dân biểu, nó làm bộ hỏi thăm ông Đức vài ba câu xã giao, rồi kín đáo nhét vào túi áo sơ mi cho ông tờ giấy 500 đồng. Tôi ngồi im quan sát, tưởng đâu ông Đức sẽ vờ như không biết gì, để làm thinh nhận tờ giấy bạc đó. Nhưng không dè ông ta đã phản ứng mạnh. Ông rút ngay tờ giấy bạc ra, ném trả lại cho nó và xua nó ra ngoài. Khi ông dân biểu "con ngà chống ngáy" của thời đệ nhị cộng hoà đã ra khỏi tiệm, ông Đức mới nói với tôi: "Bộ toa tưởng đứa nào cho moa tiền cũng được à?". Một dịp khác chứng tỏ ông rất tỉnh táo, bình thường. Hôm ấy, vào một buổi tối, khoảng 12 giờ đêm, tôi lái xe từ bên Khánh Hội qua Cầu Quay để vào Sài Gòn, bất ngờ thấy ông Đức còn đi bộ ngất ngưởng giữa đường, trên cầu. Tôi đã ngừng xe lại đón ông về. Vừa ngồi xuống, ông đã hỏi tôi như muốn chọc quê: - Lái xe đi trong giờ giới nghiêm như thế này mà không sợ bị cảnh sát bắt à? Tôi đáp và có ý đùa dai với ông: - Tôi có giấy phép đi trong giờ giới nghiêm của toà tổng trấn. Ai dám bắt? Còn ông, ông có giấy phép đi trong giờ giới nghiêm không mà dám đi giữa đường đêm khuya như thế này? - Ồ, cái bản mặt của moa còn ngon gấp ngàn lần cái giấy phép của toà tổng trấn cấp cho toa. Thằng cảnh sát nào ở Sài Gòn này mà dám bắt moả? Thế rồi trên quãng đường dài trò chuyện, ông hỏi thăm lân la đến các bạn bè quen biết cũ của ông, trong số đó có cả đại tá Phạm Văn liễu, ở căn nhà đầu ngõ nhà ông, trong con hẻm trước cửa trường nữ trung học Marie Curie, đường Công Lý, nơi mà thỉnh thoảng, ông vẫn nổi cơn hứng bất tử ra đứng giữa đường, vạch quần ra đái tồ tồ, khiến các em bé Marie Curie mắc cở ôm mặt chạy, la chí choé, và xe cộ bị kẹt cứng cả nút. Sau biến cố Mậu Thân, chánh phủ đòi lại nhà, ông Đức đã cùng vợ và 2 người con trai phải dời vào trú ngụ trong một cái chòi lá trong xã Thạnh Mỹ Tây, khu Đồng Ông Cộ. Nơi đây, ông vẫn quen tật đi sớm về khuya và say mềm, nên một hôm đã bị bọn dân vệ nhóc con trong xóm đè xuống đánh cho một trận nhừ tử. Khi được tin ấy, tôi vội vàng tìm đường lặn lội vào thăm ông, nhưng ông còn đang mơ màng, không chuyện trò gì được, bà Ilse Meyfarth đã giải thích: - Vì họ không biết ông là Dương Văn Đức thường say sưa, nhưng vô tội... Sau đó ít lâu bà Ilse Meyfarth không chịu nổi cảnh nghèo túng, vất vả quá mức, đành rứt áo ra đi, đem 2 người con trai lúc bấy giờ còn nhỏ dại, về quê hương ở Đức, để nuôi nấng cho chúng nên người hữu dụng.
MỐI TÌNH LÃNG MẠN
Khoảng năm 1951-52, tôi đã quen với Hồ Ngọc Cứ, như đã kể trong các chương trước trong sách này. Lúc đó Hồ Ngọc Cứ hãy còn là một chủ vựa bán rau cải trong Chợ Cầu Ông Lãnh. Bên cạnh vựa của Hồ Ngọc Cứ là vựa của người anh thứ Tư của Sáu Cứ, và một vựa khác là của anh Ba, người anh kế của tướng Dương Văn Đức. Hai anh em tướng Đức giống nhau như đúc, khi gặp mặt rất dễ nhận lầm. Tôi đã chơi rất thân và thường ăn nhậu ngay tại chợ với cả ba người này. Do đó tôi có dịp làm quen với tướng Đức từ lúc ông còn là một sĩ quan tầm thường. Theo tôi nhận xét, tướng Đức quả là con người hữu dõng vô mưu, vì tánh tình nóng nảy, nhẹ dạ, cả tin, lại có nhiều tham vọng cá nhân. Khi nói chuyện gì quan trọng, ông có tật thường kéo trề 2 bên mép của cái miệng khá rộng xuống, khiến trông ông giống như hình vẽ những tay "Samurai" Nhật Bản. Cuộc đời danh vọng và sự nghiệp của tướng Dương Văn Đức đã khởi đầu từ những năm 1947, lúc đó còn mang lon thiếu uý. Từ đó tướng Đức đã leo lên những nấc thang danh vọng rất nhanh như diều gặp gió lớn, gần như mỗi năm lên một cấp bực. Trong vòng 10 năm, từ 1947 tới 1957, từ cấp bực thiếu uý, ông Dương Văn Đức đã nhảy lên đến thiếu tướng. Có lẽ tướng Đức là một viên tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội VNCH. Ông mang lon tướng khi mới 31 tuổi, và đã được tổng thống Ngô Đình Diệm hết sức tin dùng. Nhưng kể năm 1964, cuộc đời của ông lại xuống dốc thê thảm! Trong dịp được cử đi làm đại sứ VNCH ở Nam Hàn, tướng Đức đã bất tuân lệnh của tổng thống Diệm, cứ làm lễ kết hôn với một phụ nữ người Đức, lúc đó đang làm thơ ký đánh máy trong toà đại sứ Tây Đức ở Hán Thành. Từ đầu năm 1964, tôi với ông không có dịp nào gặp lại nữa. Đến khi ông được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lịnh quân đoàn 4, qua công việc báo chí tôi mới có dịp gặp lại ông. Lần này, tôi lại có dịp làm quen với bà vợ người Đức của ông, khuê danh là cô Ilse Meyfarth. Cô Ilse Meyfarth rất giỏi cả Anh lẫn Pháp ngữ. Sở dĩ tôi làm thân nhanh chóng với bà tướng Đức là vì tôi có một người bạn đồng môn cũ ở Lycée Pétrus Ký. Sau khi đậu Tú Tài, anh đã sang Pháp du học, rồi qua Đức học thêm lấy bằng tiến sĩ luật khoa đầu tiên của giới người VN ở Đức. Anh bạn của tôi đã quen với cả gia đình của cô Ilse Meyfarth lúc còn ở Bonn... Chuyện tình duyên giữa tướng Dương Văn Đức với cô Ilse Meyfarth cũng lãng mạn và có nhiều tình tiết ly kỳ như tiểu thuyết. Sau ngày 30. 4. 1975, ông Đức đã bị bọn CSGV bắt đi học tập cải tạo, đày đoạ cho đến khi gần chết mới thả cho về nhà, để khỏi mang tiếng dã man, vô nhân đạo! Cách nay, có lẽ trên 10 năm, tôi đã có dịp gặp lại bà Ilse Meyfarth và 2 người con trai của tướng Dương Văn Đức ở Bonn. Lúc ấy Ilse Meyfarth đã trở thành một lão phu nhân và 2 đứa trẻ năm nào nay đã trở thành những thanh niên Đức cường tráng đầy sinh lực. Thời gian và biến cố hãi hùng của đất nước Việt Nam đã khiến chúng tôi không khỏi sững sờ khi bất ngờ gặp lại nhau ở một nơi vô định. Chúng tôi nhìn nhau nước mắt lưng tròng, và ngậm ngùi khi nhắc lại những kỷ niệm xưa của người quá vãng! Mối tình đẹp như thơ giữa giai nhân và danh tướng thuở xuân thời nay chỉ còn lại trong tôi hình ảnh một bà già đơn côi với nụ cười héo hắt và đôi mắt đục màu tro đen của dĩ vãng tối tăm giữa căn chòi lá nghèo nàn trong đồng Ông Cộ! (Còn tiếp)
|