QUÊ NAM MỘT CÕI THẾ GIỚI THI CA TRỮ TÌNH của Ngọc An
Hồ Trường An
Trong Mùa Thu Diễm Ảo Của Cuộc Đời
(Ảnh Ngọc An) Đối với đa số những kẻ bước vào tuổi trung niên thì quả thật khó làm một bài thơ tình mặn mà xúc cảm. Có lẽ những rung động của con tim trong tuổi hoa niên hay trong tuổi thanh xuân của họ bị rơi rụng ít nhiều trên những nẻo đường đời mà họ đã trải qua. Lại nữa, gánh mưu sinh hay gánh hệ lụy làm tâm hồn họ mất sự tươi mát, làm trái tim của họ chai lì không còn mẫn cảm nữa. Song có một điều lạ lẫm: khi đọc một vài bài thơ của Ngọc An in trong ‘’Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu’’ do cơ sở Cảo Thơm thực hiện vào mùa Xuân 2000, tôi ngạc nhiên một cách kỳ thú: Thơ chị vẫn ăm ắp rung động, vẫn dạt dào tình ý, vẫn bát ngát men hương nồng đượm say sưa. Dường như chị sinh ra để làm loại thơ này Tuy không ướt sũng cảm tính như thơ tình yêu của của T.T.Kh, lại cũng không như loại thơ trữ tình rất dễ thương về phương diện nhân sinh quan của nữ sĩ Thu Hồng (1) thời tiền chiến, nhưng tình ý chân thành và đôn hậu trong thơ của chị cũng đã ghi nhiều dấu ấn đậm đà trong tâm hồn khách thưởng ngoạn không quá dễ dãi mà cũng không quá khó tánh.
Khuynh hướng thi ca, Ngọc An đã xác định ở bài ‘‘Màu Thời Gian’’ trong thi tập ‘‘Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’.
Người làm thơ để giải sầu thế sự, Em làm thơ vắt cả máu tim mình. Đem niềm đau từ thuở tuổi sơ sinh, Gởi hết cả đời mình theo giấy mực. * Em đã viết với những điều rất thực, Với ước mơ sâu kín của riêng mình. Với tình yêu trong trắng thuở nguyên trinh, Thuyền định mệnh đã vô tình đưa đẩy. (trang 85)
Vào một buổi sáng chớm hạ, tôi nhận được một bưu kiện kết xù do Ngọc An gửi tặng gọi là món quà văn chương gồm có: 1 tuyển tập thơ văn ‘‘Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ’’ (1998), 2 thi tập ‘‘Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’ (1997), ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’ (2000), 2 tuyển tập thơ văn gồm của nhiều tác giả trong đó có thơ của Ngọc An như ‘‘Hoa Vàng’’ (2003), ‘‘Nam Phong’’ (2005). Và đặc biệt là tập thơ của Ngọc An được phổ nhạc. Mỗi một tác phẩm là một công trình rực rỡ về hình thức: ruột được trình bày khoáng đãng, sáng sủa và đầy hình ảnh văn gia thi sĩ ở Bắc California và hình ảnh những văn hữu thi hữu từ bốn phương trời xa xăm đến viếng Thung Lũng HoaVàng. Còn bìa được tráng giấy láng bóng như vóc lãnh, vóc sa-teng và được trang hoàng bằng những tranh ảnh với màu sắc cực kỳ ngoạn mục. Nhìn những bìa sách, tôi có cảm tưởng màu sắc của trăm hồng nghìn tía lộng lẫy trong hoa viên ngự uyển nào về tụ họp để mở hội quần phương trong ánh thiều quang tươi sáng.
Càng đặc biệt là quyển ‘‘Ngàn Năm Mây Trắng’’ (2002) gồm những bài thơ di cảo của cố thi sĩ Yên Bình, người bạn đồng tâm đồng điệu của Ngọc An và gồm thơ hoài niệm của chị cùng các bài thơ ai điếu của các tác giả khác. Đọc qua tác phẩm này, tôi liên tưởng đến giai thoại đẹp đẽ và u buồn hồi 38 năm truớc. Số là thi sĩ Đông Hồ thất lộc vào năm 1969. Vợ của ông là nữ sĩ Mộng Tuyêt (2) gom hết di cảo của ông để cho in thành những quyển: ‘‘Úc Viên Thi Thoại’’, ‘‘Bội Lan Hành’’, ‘‘Hương Gây Mùi Nhớ’’, ‘‘Dòng Cổ Nguyệt’’, ‘‘Đăng Đàn’’, ‘‘Thiên Địa Gian’’... Đó là những nén nhang tưởng niệm đấng truợng phu của bà quả phụ tài hoa kia. Cũng vậy, sau khi nữ sĩ Louise de Vilmorin từ trần, cứ mỗi tuần người tình muôn thuở của bà là đại văn hào André Malraux vào nghĩa trang thăm mộ bà và đặt trên mộ một bó hoa hồng đỏ thằm gọi là kỷ niệm mối tình say đắm của cả hai có sợi dây văn chương nối kết... Tôi chưa hề được diện kiến Ngọc An, chỉ được ngắm chân dung chị qua nhiều tấm ảnh, đặc biệt là 2 tấm ảnh in trên bìa trước và trên bìa sau quyển ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’. Ở tấm ảnh in trên bìa trước, chị có mái tóc cắt ngắn chải bảy ba như mái tóc Nữ Thần Điện Ảnh Greta Garbo vào thập niên 30 của Thế Kỷ 20. Chị mặc áo ngắn tay và chiếc maxi jupe màu đen đứng bên ghềnh đá ven biển gợn sóng màu xanh thẳm. Nét mặt chị buồn bã đăm chiêu. Ở tấm ảnh in trên bìa sau, chị có mái tóc rối rắm một cách nghệ thuật. Chị mặc áo hở cổ màu đen nổi hình tròn màu lam ngọc, khoác bên ngoài chiếc áo veste màu đỏ của hoa phượng vỹ, hoa vông đồng. Cặp môi chị tô son màu hồng ngọc rực rỡ. Miệng chị vẫn khép kín nụ cười. Dưới đôi chân mày cong cong như viền trăng mỏng, cặp mắt của chị cũng lộ vẻ đằm chiêu, như chìm đắm vào giấc mộng xa xăm, như không còn liên hệ với thực tại trong cuộc sống. Đây là chân dung của một nhà thơ nữ kiều diễm không tuổi tác và cũng có thể là người đẹp gợi hứng cho các thi nhân (une inspiratrice) như bà Récamier dưới triều đại Hoàng Đế Na-phá-luân Đệ Nhất . Vậy xin các bạn hãy đọc thơ tình yêu của Ngọc An để trong một giây phút nào đó, chúng ta có thể sống lại cái thời trẻ trung với trái tim mơn mởn tinh khôi. Đây bài ‘‘Giọt Nước Mắt Em’’ trong ‘‘Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu’’:
Em đã khóc... một chiều bên gối nhỏ Mưa ngoài kia như nặng hạt ru mềm Gió ngoài kia như cất tiếng ru đêm Chia nỗi nhớ mây dâng sầu ảm đạm... * Em đã khóc... vòm trời nghiêng sắc xám Bão điên cuồng như dừng bước phiêu du Hoa Phong Lan thẹn mặt với sương mù Sao Bắc Đẩu cũng sa dòng lệ nhỏ... * Em hãy khóc cho thành nghiêng quách đổ Giọt sầu em là bão tố đời anh Lệ em rơi là mầm mống xây thành Cơn thác nổi trong tim anh từ đó (trang 7)
Khi Em Hỏi
Rồi một hôm tình cờ anh đến hỏi Em là ai, từ đâu đến nơi đây? Và tìm hiểu về em thêm chút nữa, Cuộc tình riêng ngang trái tự bao ngày. * Em vội vã gom hồng lên bếp lửa Gọi tim về nhen nhúm chuyện ngày xưa Ôi! Chóng quá thời gian trôi lặng lẽ Hai mươi năm đau xót mấy cho vừa. (trong thi tập ‘‘Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’, trang 111)
Lời thơ lẫn ý thơ sao mà sáng loáng như pha lê, trong vắt như dải suối mà kẻ vãn cảnh có thể nhìn suốt đáy để thấy những hòn cuội xinh xinh, những cụm rong mềm mại. Thơ của Ngọc An đơn giản, lưu loát, nhạc thơ êm như mộng, dịu như nhung. Ý thơ không thần bí, không ngoắc ngoéo, rối reng. Ngôn từ không kiêu sa, không nhiều ngữ pháp diêm dúa, không có những cụm từ (groupe de mots) phức tạp. Có người sẽ bảo thơ như thế này không đặc sắc, như một tời giấy trắng, như một tấm lụa bạch trơn, cần phải vẽ, phải thêu một chút gì đó cho mặt giấy, mặt lụa thêm phần ý nhị, thêm phân sinh sắc hơn. Tôi thiết nghĩ không cần. Cái đơn giản, cái trơn nhẳn của ngôn từ có thể làm hiển lộ cái chân tình và bộc lộ niềm tha thiết của tác giả hơn, nhất là ở những bài thơ lục bát, chẳng hạn như bài ‘‘Bâng Khuâng Nỗi Nhớ’’ trong thi tập ‘‘Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’. Đọc bài thơ này, chúng ta có thể liên tưởng đến giọng điệu trong thơ lục bát của nhà thơ nữ Hằng Phuơng (3) vào thời tiền chiến .
Bỗng dưng lòng cảm thấy buồn, Nhớ quê, nhớ phố, nhớ nguồn, nhớ sông. Nhớ trời phương cũ mênh mông, Bao nhiêu kỷ niệm sầu chong ngọn đèn. Nhớ bàn tay ấm thân quen, Nhớ lần tiễn biệt bạn hiền năm xưa. Sài Gòn sớm nắng chiều mưa, Đường khuya phố nhỏ, chân khua nhịp buồn. Chuyện đời ôm giấc cô miên, Người đi còn lại ưu phiền trong tim. Tháng ngày in dấu chân chim, Buồn theo nỗi nhớ chìm vào hư không! Mộng xưa chôn chặt trong lòng, Người đi biền biệt vời trông bóng hình. Đêm nay trời, nước lặng thinh, Bâng khuâng nỗi nhớ riêng mình ai hay! (trang 96)
Bài ‘‘Biển Vắng Thì Thầm’’ trong ‘‘Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu’’ vẫn là bài thơ tình yêu. Ở đây, tác giả không cần nhìn sâu vào nội giới và vào tình cảm của mình. Chị hiểu tâm tình mình bắng một trực giác kỳ diệu giữa khung cảnh giá lạnh bên bờ biển:
Biển vắng tiếng thì thầm Cội thông già im lặng Xa rồi... tình trăm năm Còn đây bờ môi mặn... * Lá còn đâu ấp ủ Cây mùa đông trơ cành Biết tìm đâu người cũ Giữa tinh cầu mong manh! * Vẫn giọt nắng thủy tinh Xuôi thuyền xa bến đổ Lữ khách vẫn vô tình Đạp vỡ lá vàng khô... * Người con gái đợi chờ Đã chín mùa đông phong Chín mùa hoa mai nở Xuân sắc nhạt môi hồng. * Còn gì nữa... người ơi! Biển tương tư rã rời Vết tình in trên cát Sóng xô bờ cuốn trôi ... (trang 8)
Qua các đoạn trích dẫn của hai bài thơ trên, chúng ta đã thấy gì trong thi ca của Ngọc An? Có phải thơ của chị đầy hình ảnh, được kiến trúc bằng những nét tạo hình hay không? Thơ mà thiếu hình ảnh, âm thanh, hương vị, hoặc những gì khơi dậy xúc giác, tình cảm chúng ta tức là thiếu những cái va chạm vào năm giác quan và cõi nội giới chúng ta thì chúng không còn là thơ nói riêng , không còn là văn chương nói chung. Nữ tiến sĩ Helen Keller bị mù mắt, bị câm điếc từ thuở nhỏ, nhưng bà vẫn viết văn được. Dù thế giới màu sắc và hình ảnh cùng thế giới âm thanh đóng chặt cánh cửa đối với bà, tách rời bà với thế gian, xô dẩy bà vào cõi tối tăm im lặng suốt đời. Tuy nhiên, còn xúc giác của bà vẫn mở rộng để bà viết những bài tùy bút đẹp tuyệt vời khi bà sờ đến những cánh hồng êm dịu, những giò huệ mảnh mai, những lượn sóng lăn tăn mát rượi trong dòng suối. Và còn khứu giác nữa chi. Mũi bà có thể tiếp nhận những mùi hương của cỏ cây, hoa lá, gió biển v.v... đem lại cho bà biết bao cảm hứng phong phú để bà viết văn. Như thế, xúc giác và khứu giác của bà chẳng những tạo cho bà trở thành một bậc vĩ nhân trong công cuộc tìm ra lẽ sống mầu nhiệm, mà còn giúp bà trở thành một hiện tượng rực rỡ trong lãnh vực văn chương. Vậy thì những nhà thơ của chúng ta hãy còn tiếp xúc với thế giới màu sắc, hình dáng, âm nhạc, tiếng động, hương vị thì lẽ nào chúng ta chỉ biết sáng tác những câu thơ khô khan, chữ nghĩa vô vị vô hồn như cái thây ma khô đét, như gỗ đá vô tri hay sao? Thơ mà thiếu những cái va chạm vào giác quan người đọc là loại trái cây thiếu sinh tố, là thứ lá héo úa mất hết lục diệp tố.
Ở thơ Ngọc An, chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh rất thơ, những nét tạo hình nhịp nhàng và hài hòa trong thiên nhiên: nào mưa rơi giọt mềm, bóng đêm đen, hoa phong lan, sao BắcĐẩu, nào cảnh biển vắng, cội thông già, cây mùa đông trụi lá, nào nắng thủy tinh, lối đi trải lá vàng khô, nào vết tình in trên cát, cuộn sống tràn trên cát... Như thế, ai mà dám bảo Ngọc An là thợ thơ? Ai mà dám bảo chị không tìm bắt được ngôn ngữ riêng biệt của thơ? Xin đọc bài ‘‘Đêm Mơ’’ trong thi tập ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’:
Hồn em là cả trời mơ mộng Dẫu biết ngàn năm mây vẫn bay Dâu bể trần ai trong cõi tạm Vững lòng tin tưởng ở ngày mai. * Anh đến lòng em cơn bão dậy Quỳnh tương em cạn chén tình say Thiên thu mật ngọt như huyền thoại Xao xuyến lòng này anh có hay? * Anh là ảo mộng giữa mùa đông Nửa kiếp phù sinh vướng bận lòng Gom cả tình anh vào giấc ngủ Mơ thuyền cặp bến một dòng sông... (trang 110)
Đây là hình ảnh nửa hư nửa thực, chập chờn phiêu diễu mà chúng ta thường gặp trong cõi thi ca thời tiền chiến. Chúng được Lưu Trọng Lư sử dụng để đưa thơ mình vào một cõi riêng biệt trong thi giới. Bài thơ này của Ngọc An dù không hoàn toàn ảnh hưởng thơ ông ta, nhưng được phản ảnh một vài mảnh vụn lấp lánh trong một vài câu rải rác ở đâu đó. Cũng như nhà thơ họ Lưu, chị đưa bài thơ này vào cõi mộng cơn say trong cuộc tình của mình. Xin đọc thêm bài ‘‘Tâm Sự Với Xuân 2000’’ trong thi tập ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’ :
Nắng đã hồng thêm con phố lạnh Lung linh từng đợt gió heo may Mình ta lạc bước khung trời vắng Xác lá bên đường lất phất bay... * Xác lá như hồn thu vấn vương Chiêm bao mộng mị cõi vô thường Bóng dài nghiêng đổ trên hè lạ Chỉ một mình ta giữa phố phường! * Nắng đã lui dần vào cõi tịch Trả nhân gian màu xám âm u Bàn tay níu vội thời gian lại Chân bước mà nghe sóng dập vùi... * Biển ở quê hương biển có hay Từng cơn xao động trái tim này Lòng thuyền muôn thuở không dời đổi Chia sớt cùng ta chút đắng cay! (trang 47)
* * *
Cuộc tình nào nếu không có nụ cười thì cũng có giọt nước mắt. Nụ cười là nguyên nhân tạo nên những bài Nhạc Thiều Ca (les Hymnes). Còn giọt nước mắt khơi thần trí sáng tạo của thi nhân để hình thành những bản Trữ Tình Ca (les Odes). Toàn bộ thi ca của Ngọc An không thiếu Trử Tình Ca đâu. Chị yêu say đắm như trôi lênh đênh trong men rượu nồng ngát say sưa để rồi quên thực tại, quên bóng tối dĩ vãng sau lưng, quên viễn ảnh tương lai cuối chân trời xa thẳm trước mắt. Xin đọc bài ‘‘Sóng Tình’’ trong thi tập ‘‘Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’:
Một sớm mai thức dậy Không giống như mọi ngày Hoa nở rộ trong tim Hoa cưòi trong ánh mắt * Ta yêu anh thật rồi Bởi lòng ta se sắt Nhớ người yêu xa xôi Để ta mòn mỏi đợi * Ngày đầu mới gặp nhau Ngỡ như trong tiền kiếp Quen nhau tự thuở nào Thương nhau tình thắm thiết! (trang 113)
Giọt lệ không tạo cho Ngọc An sáng tác những khúc bi ca (les poèmes saturniens). Bi ca vốn là loại thơ để tác giả nhìn sâu vào đời sống, vào các tấn bi kịch trong cuộc đời. Chúng ta hãy đọc bài thơ ‘‘La Déesse du Soleil Couchant’’ (‘‘Nữ Thần Tà Dương’’) của nữ sĩ Renée Vivien. Bài thơ này tả cái đẹp chết chóc với sắc thái cường điệu. Đây là bài bi ca đúng hơn bài trữ tình.
Tóc em giống lá thu Hỡi Nữ thần của chiều hôm, của những phế tích, của buổi tối Máu buổi hoàng hôn là màu đỏ của mủ triều thiên của em Em chọn vùng đầm lầy tù đọng làm tấm gương soi. * Mùi hoa huệ héo tàn và mùi cành cây ung thối Bốc hơi từ tấm áo với những làn xếp biếng trễ của em; đôi mắt em Theo dõi một cách uể oải những cơn mơ mộng xanh xao Trong giọng nói hãy còn vọng tiếng thổn thức của những cuộc vĩnh biệt (4).
Giọt lệ chỉ khơi dậy cho Ngọc An nỗi buồn cô quạnh, những bài ca trữ tình. Xin đọc bài ‘‘Hải Âu’’ trong thi tập ‘‘Từ Miển Biển Sóng’’.
Tản mác về đâu những áng thơ Thời gian như huyệt lạnh sương mờ Cố tâm nung nấu trong tiềm thức Gợi nhớ riêng mình một ước mơ... * Ước mơ một kiếp là chim biển Tung cánh Hải Âu khắp mọi miền Côn đảo xa vời, đồng cát mịn Chẳng nghe tâm não nặng ưu phiền. * Em sẽ đùa trăng trong bóng đêm Rong chơi mỗi buổi nắng chiều lên Dang tay ôm cả khung trời rộng Nghe gió vi vu tiếng gọi thầm * Người yêu bé nhỏ của ta ơi! Ta nhớ thương em suốt một đời Dù kẻ chân mây người góc biển Thuyền tình mang mãi chẳng hề vơi. * Em ước em là chim Hải Âu Bao la tung cánh giữa ưu sầu Cơ duyên tao ngộ người yêu cũ Anh hỡi... bây giờ anh ở đâu ? (các trang 106, 107)
Vết thương trong tim tác giả không nhức nhối lan rộng, nhưng mà sâu sắc dằng dai. Nhà thơ than vãn nhưng không rên rĩ, gào thét. Chị biết tiết chế tình cảm khi đối diện với cuộc tình đã mất, với niềm hạnh phúc đã phôi pha. Thơ như thế mới gây xao xuyến rất lâu trong lòng người đọc. Đây là bài ‘‘Tình Biển’’ cũng trong thi tập ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’.
Hỏi lòng đã thấy đủ chưa ? Ba mươi năm chẵn có thừa đắng cay Chữ tình vượt khỏi tầm tay Xuân xanh theo với tháng ngày rong rêu Bụi tình bám vết chân kiêu Nụ hôn gửi gió một chiều thu sang Biển tương tư, biển ngỡ ngàng Để thuyền tách bến lỡ làng duyên nhau Thuyền đi đâu, thuyền về đâu? Biển sâu lặng lẽ niềm đau mong chờ Biển hờn biển giận vu vơ Đẩy cơn sóng dữ xa bờ cát trôi Biển bao la, biển ngậm ngùi Chỉ thuyền mới biết một đời biển đau Thuyền lênh đênh giữa biển sầu Đêm đêm biển hát ngàn câu vỗ về Ai đi xin nhớ lời thề Một thời gặp gỡ đam mê nửa vời Gởi theo sóng nước trùng khơi Tình yêu nồng thắm bên trời ly hương. (trang 64)
Sau đây là bài ‘‘Xuân Lẻ Bạn’’ khóc người tình thiên cổ trong thi tập ‘‘Ngàn Năm Mây Trắng’’. Nhà thơ không thắp nén nhang trên bàn thờ hay trước mộ người quá cố mà chỉ thắp nén tâm hương trong nỗi hoài niệm thiết tha của mình . Ở đây, nhà thơ cố mường tượng cái thế giới bên kia cõi sống mà vong linh của người bạn lòng của mình đang lạc lõng trong đó. Bài thơ không vang vọng tiếng nức nở huyên náo, tiếng sụt sùi bi ai. Đó chỉ là những giòng lệ âm thầm trong cõi tịch liêu của một góc đời sâu kín:
Người ở đó bên kia vùng đất lạ Có đón chờ mùa xuân đến hay không? Có giai nhân má thắm với môi hồng Để ấp ủ tình quân đêm giá lạnh. Người ở đó một thiên đường bất hạnh Lặng lẽ buồn biết than thở cùng ai Đón xuân sang nơi thế giới lạc loài Ru điệp khúc cùng sương khuya tẻ nhạt Người ở đó côn trùng vang khúc hát Điệu bi ai trong cõi sống vô thường Để xuân này lòng mang nặng sầu thương Xuân lẻ bạn, người ơi... người có hiểu??? (trang 99)
* * *
Ngọc An không chỉ thu hẹp thơ của mình vào tình yêu đôi lứa dù trong thứ tình yêu ấy, chị quẫy lộn như con lý ngư gặp nước trong mát của đầm sâu ao rộng, như chim én nhào lộn trong bầu trời cao rộng tràn ngập nắng xuân tươi. Tuy nhiên, tình yêu của chị lại thăng hoa lên một cung bậc cao hơn, lan rộng trong một lãnh vực có ý nghĩa đẹp hơn hay trong một không gian bao la hơn. Đó là tình yêu hướng về mẹ cha, tổ quốc, chính nghĩa. Đó cũng là tiếng thơ thời đại mà những nhà thơ vong gia khứ quốc nào một khi định cư trên một đất nước mới cũng xem như là một sứ mạng, một điểm tựa tinh thần để khơi nguồn cảm hứng đang tràn ngập tâm hồn của mình. Ngọc An đâu thể chỉ yêu đương sa đà, đâu thể chỉ đắm đuối trong nỗi đam mê thần tượng tình yêu đôi lứa của mình. Dù sao khi tìm cách dung thân trên đất nước mới, vết thuơng lòng của chị và vết thương tổ quốc chưa hẳn lành lặn. Ác mộng thời chiến tranh để chống Cộng cứu nước và ác mộng trong những ngày sông dưới chế độ Cộng Sản làm sao hết ám ảnh chị được? Cho nên tâm sự u hoài của Ngọc An được ký thác vào thi tập ‘‘Ngàn Năm Mây Trắng’’. Khởi đầu những bài thơ nhớ nước thương nhà là những bài thơ tìm về dĩ vãng gồm có thời hoa niên và tuổi thanh xuân của Ngọc An. Khoảng thời gian ấy được các thi nhân, văn gia dùng rất nhiều sáo ngữ thời đại nào là tuổi hoa, tuổi hồng, tuổi ngọc, tuổi ô mai, thuở dậy thì v.v... Nhưng giờ đây độc giả kiều bào đã vào tuổi trung niên, đã thu mình vào mùa thu cuộc đời trên đất khách rồi thì chẳng những họ không thấy những ngôn từ ấy rổng sáo nữa ; mà trái lại chúng trở nên thân thuơng đối với tấm lòng hoài niệm của họ. Chúng gợi nên một chặng đời mộng ảo mơ hoa vô cùng kỳ thú của mình.
Chiều trở lại trên con đường tuổi ngọc Tôi quay về một dĩ vãng mờ xa Hình ảnh ngôi trường, tà áo thướt tha Hàng phượng đỏ ven đường tươi nắng ấm... * Trong hoài niệm hiện về từ xa thẳm Của một thời thơ dại sống hồn nhiên Bên thầy cô, sách vở, lũ bạn hiền Tôi có cả mưa xuân và nắng hạ... (‘‘Một Dĩ Vãng’’, trang 163)
Đường về kỷ niệm đâu phải chỉ ngừng lại ở ngôi trường lớp học mà ở quê hương của tác giả. Đó là Vũng Tàu, một thành phố du lịch danh tiếng, một thị trấn hoa lệ bên bờ Nam Hải của đất nước Nam Kỳ Lục Tỉnh. Không gian nơi đó bao la khoáng đạt dễ mở rộng nội giới những kẻ mang sẵn nòi thơ, đưa cảm khái bát ngát và cảm hứng lai láng vào tâm hồn họ.
Vũng Tàu biển sóng vây quanh Em về tìm lại ngày xanh tuổi hồng Bao nhiêu năm cuộc phiêu bồng Quê hương vời vợi đau lòng đỗ quyên * Rì rào gió cát hàn huyên Từ em cất bước truân chuyên dập dồn Rặng dừa rũ bóng hoài mong Mà người đi mãi cánh hồng bay xa... * Thôi đành dấu mộng hải hà Thuyền neo bến đợi trăng tà quạnh hiu Bao nhiêu hạnh phúc chắt chiu Đào Nguyên một thuở Nguyễn Lưu lạc đường! * Ai về gối mộng tơ vương Ai đi biền biệt một phương ngóng chờ Con đường kỷ niệm ngẩn ngơ Tương lai, hiện tại, thẫn thờ... chiêm bao... (‘‘Biển Nhớ’’, trang 146)
Từ niềm nhớ thương cố hương Vũng Tàu, tâm hồn tác giả bay xa hơn để đến những địa danh mà chị đã đến viếng thăm hay chỉ biết qua sách vở hay qua lời đồn đãi. Nhưng dù thì dù, tất cả địa danh ấy đều nằm trong non sông tổ quốc chúng ta mà nơi xứ lạ quê người tác giả luôn ấp ủ một niềm thương mến luôn tươi thắm đậm đà .
Sáng hôm nay nghe gió về lành lạnh Thu đã chuyển mùa, anh có biết không? Mây lang thang, hồn trĩu nặng nhớ mong Nắng dìu dịu, lòng em buồn man mác... * Em bỗng nhớ mùa Thu xưa Đà Lạt Mây Lam Viên mờ ảo phủ rừng thông Mi-mô-sa từng hạt lệ rưng rưng Bên hồ biếc, xôn xao cơn sóng gợn. * Em chưa có mùa Thu sông Hương núi Ngự Huế mơ màng ôm cung điện nghìn xưa Huế của ai... sao nhiều nắng lắm mưa Em ao ước được một lần hạnh ngộ! * Em nghe nói: trời mùa Thu Hà Nội Heo may về từng đợt gió buồn hiu Lá vàng rơi trên đường phố cô liêu Hồ Lãng Bạc, dấu tích xưa huyền sử... * Thế là đã hơn mười Thu cô lữ Lá quê người sắc vàng đỏ mênh mang Nhưng trong em, bao kỷ niệm úa vàng Niềm cố quốc... quê hương xa vời vợi... * Anh biết đó, em vẫn hằng mong đợi Một mùa Thu... ta nhặt lá vàng rơi! (‘‘Dấu Chân Thu’’, trang 145)
Dù Đà Lạt có đôi lần tác giả thăm viếng, dù Huế và Hà Nội có nhiều lần chị mơ tưởng, nhưng đó là những hình bóng xa xăm hay những hình bóng trong cõi mường tượng mà thôi. Tuy nhiên, mấy nhịp cầu tre, mấy nhánh sông trên mảnh đất miền phù sa Sông Cửu vẫn là những hình ảnh gần gũi với tâm tình chị hơn. Dù là những hình ảnh tầm thuờng, nhưng vẫn ghi biết bao dấu ấn kỷ niệm yêu dấu và nhất là hình ảnh song thân của chị trong trái tim của chị. Chị nhân cách hóa con sông cái như người mẹ hiền (sông Mẹ). Còn những nhánh sông phụ lưu, chi lưu là đàn con. Tuy nhiên, tác giả còn ví những dòng sông (sông cái lẫn rạch con) là những dòng sữa của Đất Mẹ nuôi dưỡng những đứa con của Tổ Quốc thân yêu nữa. Một bài thơ mà hàm chứa nhiều ẩn dụ lớn lao như vậy vẫn là một bài thơ sản sinh từ thần trí sáng tạo tuyệt vời. Nhưng những nhịp cầu tre thì tượng trưng cho cái gì đây? Tác giả dù không nói ra, nhưng chị đã mở cho chúng ta những dòng liên tưởng đến những niềm cảm thông nối liền những tâm hồn hòa hợp và đồng điệu với nhau, những niềm gắn bó da diết giữa những tình người đồng chủng đồng hương với nhau. Xin đọc ‘‘Mấy Nhịp Cầu Tre Mấy Nhánh Sông’’ trong thi tập ‘‘Từ Miền Biển Sóng’’ :
Có ai còn nhớ dòng sông Mẹ Sinh trưởng đàn con nay lớn khôn Chắp cánh đoạn trường nơi đất lạ Quê nhà Mẹ khóc tạ dòng sông... * Ra đi con Mẹ có vui gì Giọt lệ tuôn tràn phút biệt ly Đau xót nghẹn ngào chân bước vội Âm vang nhạc khúc biệt kinh kỳ... * Mấy nhịp cầu tre mấy nhánh sông Như dòng sữa ngọt Mẹ nuôi con Nặng tình sông núi bao xa cách Thao thức từng đêm nát cõi lòng! * Nửa mảnh trăng buồn như vấn vương Chim Quyên khóc bạn buổi lên đường Dòng sông tức tưởi đau lòng nước Mấy nhịp tình sầu biệt cố hương... (trang26)
Ở các đoạn sau của bài thơ ‘‘Mấy Nhịp Cầu Tre Mấy Nhánh Sông’’ hình như tác giả không chỉ tự than vãn hoàn cảnh bất lực của mình vì chị nghĩ rằng mình không làm được cái gì cho quê hương trong cảnh quốc phá gia vong. Hình như chị nhắn nhủ những người cựu chiến binh, những kẻ nuôi bền lửa thiêng ái quốc hãy góp tay góp sức vào đại cuộc. Xin đọc tiếp:
Phong sương đã nhuộm trôi màu tóc Tuyết lạnh trời Tây bạc mắt môi Ý chí quật cuờng không thể mất Nhưng... cao niên kề một bên rồi! * Còn đâu anh dũng hiên ngang ấy Góp mặt sa trường lướt gió mây Vượt sóng trùng dương cơn bão tố Còn đây... những dòng lệ đêm ngày ! * Thôi rồi một mảnh tàn y Súng gươm trả lại, oai nghi trao người Hai lăm năm, chẳng nụ cười Hồn thiêng sông núi, đất trời chứng minh Đàn con vì kế mưu sinh Vì hờn non nước điêu linh một thời Ra đi góp gió phương trời Mong ngày trở lại rạng ngời quê hương Hai lăm năm, khóc đoạn trường Mộng cao chí cả như sương dật dờ Gửi hồn vào những vần thơ Niềm riêng canh cánh đợi chờ bình minh Soi gương chợt thấy bóng hình Da nhăn tóc bạc giật mình Mẹ ơi... (trang 27)
Nỗi niềm nhớ nước nhớ quê có thể hiện diện qua địa danh, hình ảnh trong bài thơ ‘‘GiòngTâm Sự Nhỏ’’ trong thi tập ‘‘Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng’’. Tâm sự hoài hương vẫn là tâm sự chung cho kiều bào. Nó tầm thường, phổ thông, nhưng mà nó gìn vàng giữ ngọc cho những con người còn thương tưởng tới cố quốc, không vì bã lợi danh ở hải ngoại mà mất gốc mất rễ. Bài thơ hoài hương càng có nhiều hình ảnh quê hương càng chứng tỏ tâm tình hoài vọng của tác giả càng tha thiết, càng thắm đượm và thâm thúy biết ngần nào! Niềm yêu quê làm cho tác giả thấy địa danh nào cũng đẹp, hình ảnh nào cũng nên thơ cả. Chị cố tình gọt sạch gai góc của xã hội phiền phức tại các địa danh ấy, chỉ giữ lại cái gì có khía cạnh tích cực và tốt đẹp trong tâm khảm của mình mà thôi.
Quê ta đó phía bên kia bờ biển, Thái bình dương nay xa cách nghìn trùng Ôi! Vũng Tàu nỗi nhớ thật mênh mông, Những thành phố, đồng bằng và sông núi... * Ta ra đi với bao niềm hờn tủi, Bởi quê hương đang nặng dưới gông xiềng. Và Tự Do tiếng gọi quá thiêng liêng, Mang ta tới nơi chân trời xa lạ. * Mảnh hành lý đầy thương yêu nỗi nhớ Người ra đi tung đôi cánh thênh thang. Bỏ lại sau lưng những lũy tre làng, Con phố cũ, đường trơn màu đất đỏ. * Nhớ Đà Nẳng, Nha Trang chiều lộng gió, Huế Cố Đô với thành quách rêu phong Đà Lạt mờ sương che phủ đồi thông, Cần Thơ đó, bến Ninh Kiều sóng gợn. * Phố biển Vũng Tàu, một thời mới lớn, Dấu chân xưa trên cát có còn chăng? Những giòng sông êm ả tắm màu trăng, Con đò nhỏ khua chèo trên bến cạn. * Và tất cả nhạt nhòa trong ánh sáng, Hòn Ngọc Viễn Đông sắc thắm Sài Gòn Thủ đô một thời tình nghĩa sắt son, Bao chiến sĩ vì quê hương nằm xuống. * Ta nhớ rõ như in trong tâm tưởng, Những con đường, dãy phố, những dòng sông. Những cái tên quen thuộc đến nằm lòng, Từ Bình Triệu chạy dài vô Chợ Lớn. * Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà, Bưu Điện, Chợ Bến Thành, Cầu Muối, chợ Bình Tây... ChùaVĩnh Nghiêm vươn tháp nhọn, ai xây? Lăng Ông đó, những mùa xuân hái lộc! * Bao thương nhớ lòng ta thêm thổn thức, Những dấu yêu, kỷ niệm một thời xa. Việt Nam ơi! Hỡi đất tổ quê nhà, Xin trang trọng gửi giòng tâm sự nhỏ. (các trang37, 38, 39)
Tổ quốc giang sơn là một vấn đề to rộng. Chúng ta yêu nó qua hồn thiêng Mẹ Tổ Quốc, qua anh linh các đấng tiền nhân đã đành. Nhưng cái ràng buộc chúng ta ngoài mảnh đất cố hương còn có gia đình chúng ta. Hai đấng sinh thành của chúng ta mới là hai mãnh lực mầu nhiệm để chúng ta gắn bó với cố quốc. Cũng như bao nhiêu nhà thơ nữ nặng óc gia đình khác, cũng như bao nhiêu đứa con thương mến mẹ cha mà phải chịu cảnh lạc loài khác, Ngọc An vẫn không quên song thân của mình dù ở một phương trời hải ngoại chị bận bịu với cuộc muu sinh phức tạp để đạt thành quả tốt đẹp đi nữa. Có tình yêu thương sâu sắc đối với cha mẹ, chị mới vững chải bước vào đời, mới giữ niềm tin yêu trong cuộc sống. Có tình yêu thắm đượm của người tình anh dũng, tâm hồn chị mới tràn ngập hoài cảm, ngòi bút chị mới nở hoa.Trong những tác phẩm thi ca của Ngọc An, hình cha bóng mẹ hiện diện rất nhiều. Mẹ cha chẳng những đã khơi nguồn cảm hứng tràn trề cho thơ chị mà còn là một ám ảnh không nguôi đối với chị. Cho nên trong thơ, khi chị viết chữ Cha hay chữ Mẹ thì hai chữ đầu (chữ C và chữ M) đều là chữ hoa. Bài thơ ‘‘Hãy Vì Tôi’’ trong thi tập ‘‘Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ’’nói lên niềm hoài vọng của tác giả đối với nghiêm phụ của mình, trong bài có hai đoạn nhắc tới từ mẫu của mình. Ý thơ đơn giản, tình thương yêu của chị đối với song thân chị bao giờ cũng đơn giản, cũng hồn nhiên, nhưng rất nồng đượm, rất chân thành. Bài thơ của kẻ nào đó dù có vụng về thô tháp cách mấy, nhưng bản chất chân thành của nó vẫn đưa thơ đi sâu vào tâm hồn độc giả một cách dễ dàng, trơn ngọt :
Nếu có dịp ghé qua vùng biển mặn Hãy vì tôi, xin đôi phút dừng chân Thăm dùm Cha tôi, tuổi sắp cửu tuần Thăm dùm Mẹ, mộ phần nơi hoang lạnh... * Cha của tôi... tóc phủ màu sương trắng Một thân gầy lặng lẽ sống cô liêu Vì non sông người vẫn chắt chiu Ôm hoài bão dẫu da mồi tóc bạc ! * Đường đấu tranh trên nẻo đời luân lạc Bước công danh sáng tỏ một phương trời Bao đêm rồi con thao thức Cha ơi ! Mong tuổi thọ của Cha dài thêm nữa... * Người hãy vì tôi nhóm lên bếp lửa Nấu nước pha trà đôi chén mời Cha Con gái không về trong dạ xót xa Ngụm trà nóng cho lòng Cha ấm lại! * Đồng cát trắng đã từng đêm khắc khoải Ôm nỗi sầu, Mẹ hát khúc thiên thu Mẹ đã về trong thế giới hoang vu Con xa vắng để mộ phần lạnh lẽo... * Tha thứ cho con đường xa vạn nẻo Giải Ngân Hà cách trở tháng ngày qua Hãy vì tôi, vì tình bạn chúng ta Đốt hộ tôi những tuần nhang trên mộ! * Hồn mẹ tôi sẽ linh thiêng phù hộ Hương nhang thơm quyện đến cõi trời Tây Cho chúng ta duyên tao ngộ một ngày Trên đất khách pháo hoa bừng nở rộ... (các trang 70, 71)
Nhưng rồi cha tác giả cũng chết theo người bạn trăm năm của mình. Đó là vào tháng sáu, nhưng tác giả không nói rõ năm nào, tháng sáu dương lịch hay tháng sáu âm lịch? Nhưng chắc chắn lúc đó trên đất nước Miền Nam Việt Nam, mùa mưa dầm đã vào sâu. Nhưng cũng tháng sáu ấy, cũng không rõ vào năm nào, người tình chiến sĩ của chị đã vùi thân vào lòng đất lạnh. Hai cái tháng sáu thống khổ đã ghi vào cõi hoài niệm nhà thơ nữ Ngọc An, nên chị chiêu niệm anh linh họ về trong phút hồi tưởng bi thương của chị. Xin đọc bài ‘‘Tháng Sáu Ta Buồn Tim Tái Tê’’ trong thi tập ‘‘Từ Mièn Biển Sóng’’.
Năm nào tháng sáu ta rong chơi Ánh nắng chiều nghiêng dưới mặt trời Đuổi bướm vờn quanh hàng dậu tím Thả diều theo ngọn gió chơi vơi... * Lần lữa bao mùa Xuân nở hoa Mấy đông trở giấc đọng sương pha Thả trôi mơ mộng vào hư ảo Ôm chuỗi ngày buồn lẫn xót xa! * Tháng sáu nào mưa bão ngút ngàn Tiễn người chiến sĩ vượt quan san Đưa người yêu mến vào lòng đất Ta đã một thời lệ chứa chan... * Tháng sáu này ta đếm tủi hờn Cha vào huyệt lạnh với cô đơn Hôm nào bên cửa Cha còn đứng Vẫy vẫy tay chào để tiễn con! * Tháng sáu con buồn tim tái tê Còn đâu Cha đứng đón con về Âm dương cách biệt rồi Cha nhỉ? Vĩnh viễn ôm sầu trong giấc mê... * Con thấy Cha từ trong bóng đêm |