Welcome Dang-Van-Nham Website
www.dangvannham.com Ï¿ ޤ󤫡  
Đặng Văn Nhâm
Web Translator
View web pages in other languages:
Video ngẫu nhiên
Bài yêu thích hôm nay

Hôm nay chưa có nhận xét.

Góc nhìn
Bài ngẫu nhiên
Gửi người quen
Võ thuật
Chuyện đề: Danh mục chủ đề
1-Điểm nóng : MẠN ĐÀM VỚI VŨ TIẾN LẬP ...
Đăng bởi GioTay đăng ngày 20.09.2008 23:16 (289 lần xem)

MẠN ĐÀM VỚI VŨ TIẾN LẬP QUA
ÁNG KHÓI NHANG BẠCH ĐÀN

Hồ Trường An


Open in new window Tôi quen Vũ Tiến Lập qua sự giới thiệu của chị Hàn Song Tường. Trước đó tôi cũng đã đọc thơ của anh đăng trên hai tạp chí văn học là Văn và Hợp Lưu. Chị Tường còn cho tôi biết thêm anh bắt đầu bước vào nghiệp thơ suýt soát vài năm đối với chị.
Tác phẩm đầu tay ‘‘Tạp Ghi Thơ’’ của Vũ Tiến Lập được trình làng vào năm 2006. Tác phẩm này được tôi đưa vào cuốn bút khảo ‘‘Thắp Nắng Bên Trời’’ (2007).

Mai Thảo là một nhà thơ lớn, đem tinh thần Bát-nhã của đạo Phật vào thi ca nhuần nhuyễn hơn cả Huyền Không Thích Mãn Giác, Thích Nhất Hạnh, Thi Vũ Võ Văn Ái, Phạm Thiên Thư. Vì sao? Trong khi đem tinh thần này vào thơ, 4 ông này còn lọng cọng, đôi khi bài thơ không đạt được tầm vóc một bài thơ thuần túy mà lại trượt chân bổ nhào thành bài kệ một cách ngon ơ. Riêng Tô Thùy Yên qua thi tập ‘‘Thắp Tạ’’ thì không dùng ngôn ngữ trong kinh Phật. Đương sự dùng ngôn từ thần bí cho ra vẻ Triết học Đông Phương, ai muốn nghĩ đó là thơ dựa trên Phật pháp, hoặc dựa trên tư tưởng Lão giáo, hoặc dựa trên các loại sấm ký biên chép tam sao thất bổn của các ông Sư Vãi Bán Khoai, ông Đạo Đèn, ông Đạo Xuyến...

thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương gì gì cũng được. Nhưng thơ họ Tô vẫn đứng ngoài bờ rào của hiện hữu hoặc ngoài sân của vạn pháp , tức là hãy còn xa bản thể, chứ làm sao nhập vào bản thể được? Nhưng Mai Thảo thì lại khác. Anh dùng tinh thần Bát-nhã chẳng những làm đẹp cho thơ, mà còn đưa thơ vào cốt tủy Phật giáo, có thể nói khác hơn là vào một khung trời vô biên, một vực sâu không đáy.

Mai Thảo đào tạo biết bao cây bút đi sau anh, nhưng anh chỉ có đào tạo một nhà thơ nối bước theo anh, đưa Phật pháp nói chung, tinh thần Bát-nhã nói riêng vào thơ một cách hồn nhiên, suông sẻ, để thơ đượm đà hương khói chiên đàn trước khi đi sâu vào bản thể của vạn pháp. Đó là Vũ Tiến Lập vậy.

Mãi cho tới khi tôi viết bài này, tôi vẫn chưa hề gặp gỡ Vũ Tiến Lập. Mới đây anh có gửi cho tôi 6 tấm ảnh in trên internet. Bức ảnh thứ 5 tôi mở không ra. Trong 4 ấm ảnh còn lại thì có 2 cái đen và 2 cái có màu.Trên khung màn ảnh của máy, những bức ảnh đen trắng chụp rất đẹp. Những nét đậm có màu huyền hổ phách (onyx), những tảng nhạt có màu xám khói thu xen lẫn màu xám ngọc trai. Trong ảnh, thi sĩ có chiếc trán cao, đầu phía trước đã hói. Tuy nhiên khuôn mặt anh gân guốc và hùng tráng, ngũ quan anh phân minh với đường nét kết hợp thật hài hòa. Ở bức ảnh đầu, Vũ Tiến Lập mặc chiếc áo nền nhạt sọc xuôi, cổ bẻ rộng bản, cườm tay trái đeo đồng hồ Longines dẹp dẹp, ngón tay giữa của bàn tay mặt đeo nhẫn sáng loáng. Trước mặt anh là chai rượu gần cạn và chiếc cốc pha lê cũng lưng vơi. Mặt anh lộ vẻ đăm chiêu với vài nét nhăn giữa cặp chân mày, nhưng chiếc trán thông thái của anh vẫn sáng nhuận. Ở bức ảnh thứ hai, người phó nháy lấy cận ảnh, trình bày nét đăm chiêu của Vũ Tiến Lập rõ hơn. Vầng trán của thi sĩ như có một bóng mây sẫm buồn vần vũ. Ở bức ảnh thứ ba (ảnh màu), Vũ Tiến Lập đứng trước bức tranh màu nâu như màu ruột trái cau khô có vẽ lăng quăng những nét kẽm gai màu vàng nâu của vỏ trái mơ. Trong ảnh, anh mặc áo sơ mi cổ bẻ màu lam ngọc, được khoác bên ngoài bởi chiếc áo len đen. Anh cười rộng miệng, sóng mắt loang loáng, nét hóm hỉnh của anh làm cho tôi nghĩ đến một điều gì thú vị giữa mùa thu cuộc đời. Ở tấm ảnh chót, anh mặt áo blouson bằng da màu xám đậm như màu đá huyền vũ, quần trắng. Trong ảnh, anh ngồi trước dương cầm, tập nhạc phơi bày trên giá nhạc. Nhưng những ngón tay anh không dạo trên phím ngà, hai bàn tay lại đặt trên đầu gối.

Nhân diện của Vũ Tiến Lập không phải là nhân diện của một nhà thơ, mà của một chính trị gia, một sách lược gia đúng hơn. Sao sao cũng được, cái đáng nói hơn hết là thơ của anh. Dù anh đến sớm hay đến muộn thi đàn thì tư tưởng trong thơ cũng anh được bộc lộ một cách tuyệt vời.

*

Vũ Tiến Lập vừa gửi cho tôi 6 bài thơ. Đây không là chùm nho với 6 trái mọng chín mà là một chùm trái ưu tư đắng đót về cái thê thảm của kiếp nhân sinh. Tuy nhiên, bài ‘‘Mật Ước’’ dù có vài câu khoắc khoải về cái bí nhiệm trong cuộc sống, nhưng vẫn là một khúc hoan ca (hymne). Đọc bài thơ này, chúng ta có thể liên tưởng tới bài ‘‘Vang Vang Trờ Vào Xuân’’ của Thanh Tâm Tuyền. Nhưng vượt lên thi phẩm của Thanh Tâm Tuyền, chúng ta có thể nghĩ đến cái khế ước thiêng liêng và ẩn mật của cuộc tuần hoàn trong vạn pháp là thành, trụ, hoại, diệt. Đó là cái mật ước mà chỉ có Phật với Phật biết nhau;

gió thôi doạ dẫm
mùa xuân đang mọc
mật ước sầm uất trên tàng lá
mặn nồng khí vị cô liêu
thấy nhau bằng xa cách
đá núi bạc màu
vạn đời miên mật
giòng sông đã hiến thân vào sa mạc
nuôi chốn hạnh từ
cho bình nguyên rạng rỡ
tháng tư trở về
tâm tư dốc ngược
xanh thẫm trời blue bonnet
bát giác muốn ôm những bàn tay
đã cho nhau trìu mến

Chúng ta đã thấy gì trong bài thơ qua ba câu thơ ‘‘giòng sông đã hiến thân vào sa mạc / nuôi chốn hạnh từ / cho bình nguyên rạng rỡ’’. Có phải chăng cái hạnh từ bi của Đức Quan Thế Âm Bồ-tát được hóa thân (hoặc làm biểu tượng hay ẩn dụ) thành giòng sông trong mát để tưới tẩm sa mạc khô cằn biến thành chốn bình nguyên rạng rỡ cây lành trái ngọt? Bài thơ này sao mà nồng nàn cảm xúc, thấm ngọt tình người nói riêng, tâm Từ Bi nói chung!

Ở những bài thơ khác, chúng ta thường bắt gặp nỗi buồn của tác giả không phải ở tâm sự riêng tư mà là ở cái thân phận bi đát chung của chúng sinh. Thơ như thế gợi ngay trong cõi cảm nhận chúng ta hình ảnh buồn, khung cảnh buồn, nhạc điệu buồn. Những cái buồn ấy bắt chúng ta phải nhìn sâu vào hiện hữu chúng ta. Xin đọc bài

XUÂN LUỐNG
mưa biệt giam ngày đầu hạ
nhớ những cơn bão rớt
đất cũ qua ba mươi năm
mưa giông vẫn tồn tại
hình ảnh cũ đã không còn
thời gian trừu tượng
gang tấc chiêm bao
thiên thu vẫn hẹn
*
tĩnh lặng
vị đắng sửng sốt đầu lưỡi
thơm mùi chờ đợi
kiếm mãi không ra dấu tích
ngoài tên người mờ sâu trên mặt đá
chỗ về như gió tàn đông giẫy dụa
đôi lúc như muốn thỏa đáng một điều gì
ngoài xa khơi đời sống
hạt giống chưa hứa hẹn
mùa xuân đã luống
chúng ta đều thật có
thật cả trong mơ
đôi khi ngờ vực
nỗi nhớ rụng rơi.

Bài ‘‘Xuân Luống’’ là bài tiêu cực vạch rõ cái thảm trạng của người mê, chịu nhiều cái chi phối của nghiệp lực. Nhưng cái tuyệt vời của đương sự là đôi lúc y ta còn biết tra vấn cái đích thực của sự hiện hữu mình và y ta không muốn chấp nhận hoàn cảnh hiện tại (‘‘đôi lúc như muốn thỏa mãn mõt điều gì / ngoài xa khơi đời sống’’ ).Tuy nhiên, cái bí nhiệm của cuộc sống đâu phải ở ngoài xa khơi cuộc sống mà chính ở ngay trong cuộc sống. Nhưng dù sao đi nữa, nỗi trăn trở thao thức về cái hiện hữu của mình cùng những nổi khổ chung quanh mình và chính ở ngay mình là một thái độ tích cực, đã dọn sẵn một cuộc lên đường để y ta phá mê trừ khổ.

Chúng ta hãy tiếp tục cùng bàn đến cái bi đát của cõi phù thế trong thi ca Vũ Tiến Lập. Anh nghĩ về những khoái cảm, tức là những cái lạc thú tác dụng vào giác quan của con người. Nhưng khoái cảm không phải là hạnh phúc miên viễn mà là sự thoả mãn nhất thời. Khoái cảm nếu mà kéo quá dài quá lâu hay khoái cảm mà lập đi lập lại nhiều lần thì chẳng những cường độ chúng giảm thiểu mà không chừng chúng biến thể thành một cảm giác chai sượng chán chường. Còn hạnh phúc có cái giá trị tinh thần hơn, nhưng chúng vẫn còn nằm trong vòng cảm nhận của chúng ta, chúng lại được hình thành bởi nhiều yếu tố vô thường (giả hợp) nên cũng chịu định luật vô thường. Chỉ có cái sự giải phóng toàn diện và đích thực của kẻ thức tỉnh, của các hành giả tìm đạo mới đúnglà cái chân hạnh phúc thường hằng và vĩnh cữu mà thôi.

khoái cảm
ngọt ngào sẵn có
cũng vẫn đổi thay
thật không ổn cố
đêm thổ lộ và ta thán
đi hoang
trên nỗi xót xa
tiềm phục
đốn gẫy tháng ngày
đời sống là tầm nã cảm giác
đắm say
cùng lưỡi hái tuyệt vọng
trong nhà lao không cửa
(trích bài ‘‘Trụ Xứ’’)

Những bài thơ còn lại của Vũ Tiến Lập thường là những bài nhìn thấu suốt vào cái biến dịch của vạn pháp, cái vô tthường của hiện hữu. Con người sinh ra là để chấp nhận sự bơ vơ lạc loài. Nghiệp lực từng cá thể đưa đẩy đương sự vào hoàn cảnh sinh không được phép chọn nơi, chết không thể chọn ngày giờ và không thể chọn cách chết. Cái bi quan của con người biết lẽ đạo là tinh thần giác ngộ, mở đầu cuộc lên đường để họ tìm phương cách làm chủ cái mà đa số thiên hạ gán cho nó cái tên ‘‘định mệnh’’. Nhưng dưới ánh sáng giác ngộ, tức là ánh sáng đưa về bản thể thì làm gì có định mệnh? Làm gì có sự sắp xếp của một đấng thiêng liêng nào đó để định đoạt thân phận con người? Con người tạo nghiệp lực thì con người bị nghiệp lực đưa đẩy theo quy luật luân hồi quả báo. Đó là cái mật ước của cái định luật tự nhiên. Xin đọc bài

CƠN SỐT
đừng giữ sự hài lòng
khi bản thân cày xới bởi thời gian
mảnh đời nào cũng nhẹ như mây
lang thang biến thiên bất tận
không phải là phù du
mà hoại diệt luôn có mặt
không có sự chế ngự
ngoài nỗi chết và hư không

Tuy nhiên đã biết cái gốc rễ vô thường của vạn pháp vạn hữu thì người giác ngộ không còn bi quan trước sự lôi kéo của nghiệp lực nữa. Họ tu tập, quán niệm cái huyễn hoặc của kiếp phù sinh, cái giả hợp của hiện hữu để rồi đi vào chứng ngộ. Có được như thế đương sự mới hoàn toàn tách rời nghiệp lực. Cho nên ai đó muốn tu để lánh khổ mà không hề biết cái căn nguyên thâm thúy của nghiệp lực thì sẽ thất vọng và thất bại. Cái khổ sẽ đeo đuổi đương sự đến tận cùng. Nhưng nếu ai tu theo cách phá mê bằng cách chuyển hóa nghiệp lực thì mới trừ được cái khổ. Đó là cách tu hành theo ý thức sáng tỏ, nó thù thắng hơn cách lánh khổ một cách mù quáng. Bài thơ ‘‘Cơn Sốt’’ dù chưa đạt tới chặng cuối của con người được hoàn toàn giải phóng khỏi nghiệp lực, nhưng cũng như bài thơ đầu, nó đạt được ngôn ngữ rất thơ Cái ngôn ngữ ấy được tác giả duy trì và thể hiện vào bất cứ bài thơ nào.

*

Hôm nay là 29 tháng 12 dương lịch. Chỉ còn 3 hôm nửa là bước qua năm 2008. Đã 3 hôm rồi, mưa phùn rơi triền miên suốt ngày. Nhưng khóm thúy trúc trong chậu đất của tôi vẫn tươi ngăn ngắt, vẫn nhánh lá cứng cáp. Từ thượng tuần tháng 11 vừa qua, từ San Jose trở về Pháp, tôi mệt mỏi chán chường, cảm thấy thể chất của mình mềm héo như rau cải trụng nước sôi. Cái ẩm ướt và lạnh lẽo của thời tiết làm tôi có cảm tưởng mình bị một cái lưới vô hình ràng buộc dưới mái Cổ Nguyệt Đường này. Khi tôi vừa tỉnh giấc ngọ miên nườm nượp ác mộng thì cái bao lơn bên ngoài hai khung cửa sổ ướt dầm dề bởi trận mưa buổi xế. Tôi đốt nén nhang bạch đàn trên bàn thờ A-di-đà Tam Tôn và mở quyển ‘‘Thiền Sư Việt Nam’’ do Hòa Thượng Thích Thanh Từ biên soạn ra đọc.

Theo nhang khói bạch đàn hương, tôi lần đọc tới chương 67 tức là chương ‘‘Sư Tổ Phái Trúc Lâm Trần Nhân Tôn (1258 - 1308)’’. Đối với tôi, ngài vừa là một hoàng đế có công xua đuổi giặc Thát Đát ra khỏi cõi bờ đất nước vừa là một thiền sư mà cũng vừa là một nhà thơ. Ở cương vị nào, ngài cũng tỏ ra vĩ đại. Cứ thử đọc những câu trả lời của ngài trong cuộc tham vấn về Thiền học nói chung, về chứng ngộ nói riêng thì chúng ta sẽ rõ ngay mỗi câu trả lời của ngài là một câu thơ có hình ảnh đẹp, có ngôn từ đẹp đập mạnh vào cõi ấn tượng và cõi thưởng ngoạn của tôi:

Hỏi:
-- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?
Đáp:
-- Vườn rừng vắng vẻ ai xem sóc
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên
-- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?
Đáp:
-- Gia phong sóng bạc mê yến sớm
Tiên uyển đào hồng say gió xuân.
-- Thế nào là gia phong Phật vị lai.
-- Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
-- Gia phong Hòa thượng thế nào?
-- Áo rách che mây sáng ăn cháo
Bình xưa rưới nguyệt tối uống trà
(‘‘Thiền Sư Việt Nam’’, trang 235)

Đọc những câu vấn đáp về cuộc chứng ngộ của các hành giả Thiền Tông, tôi không dám giải nghĩa từng lời của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn, tức là bậc Sơ tổ cùa phái Trúc Lâm. Tôi không có cái lợi căn đó đâu. Nhưng ai cấm tôi cảm nhận chất thơ tuyệt vời trong những câu đáp của Trúc Lâm Sơ Tổ? Nhưng ai cấm qua khói nhang bạch đàn ngan ngát thơm, tôi nhìn vào cái Thiền phong Thiền vị qua một vài bài thơ của Vũ Tiến Lập?

GIÓ N¾N
lấp kín mặt người
gió nõn mân mê
vách bóng thần sụp ngã
cưu mang vùng cảm giác
lạc khứ đầu ghềnh
thời gian không thể nhốt
hoa rãi một lần đêm hương tích
rọi thấu vào hư ảo
và đằng sau nỗi chết
thời gian là hơi thở hiện tại
thật thể không hai
con chim đã bay qua vùng trời
trên tầng mây hoang lạnh
vẫn nhớ về núi cũ
đừng để nỗi chết đi hoang

Quá khứ là chặng thời gian đã trôi qua, tương lai là quãng thời gian chưa tới. Ý niệm của chúng ta về thời gian rất là mù mờ, khó mà mường tượng. Chỉ có hiện tại mới cho chúng ta nắm bắt được thời gian rõ ràng hơn. Chúng ta thở, tức là chúng ta còn sống, có thể thắp sáng phút giây hiện tiền tức là cái thời điểm ‘‘từ-phút-giây-này-tại-chỗ-này’’ (ici-maintenant). Nắm bắt phút giây hiện tiền tức là đi vào phút nhập thiền kỳ diệu rồi. Hiện tiền là cái thực thể tức là cái có thật, còn quá khứ, tương lai, chỗ này và chỗ khác thì tất cả đều như huyễn, (‘‘không-thật-có-mà-cũng-không-thật-không’’); tức là cái đối đãi nói chung với cái thời điểm hiện tiền. Cho nên tác giả mới hạ một câu phán quyết ‘‘thực thể không hai’’ (sic). Riêng bốn câu chót, có lẽ tác giả khuyên chúng ta hãy phản bổn hoàn nguyên, hãy trở về cái Chân Tâm bất biến, đừng để tâm thức mình trôi lăn trong vòng sanh tử như con chim dù bay qua tầng trời cao rộng mà vẫn trở về núi cũ, cái quê hương an toàn và tuyệt vời an lạc của nó.

Bài ‘‘Ngậm Nhấm’’ là bài thơ thứ hai được thể hiện tinh thần Bát-nhã, tức là tinh thẫn Bất nhị của Phật giáo. Đây là vấn đề vô thỉ vô chung của vạn pháp. Con người mê thì thấy có thời gian, thấy có đầu có cuối của dòng thờ gian. Nhưng thời gian do đâu mà hiện hữu trong tâm thức người mê? Đó có phải là những khoảng cách của các vọng niệm nối đuôi nhau nên tạo ra một dòng thời gian trong tâm thúc của chúng ta? Nhưng đối với kẻ chứng ngộ thì đương sự không còn vọng niệm nữa. Đầu óc họ sạch làu làu một khối chân không trong sáng được biểu tượng qua hình ảnh bình pha lê đựng trăng báu. Như thế thì làm gì có những khoảng cách của các vọng niệm kế tiếp hiện lên, nối đuôi cho nhau, tạo thành một dòng trôi chảy miên viễn ngút ngàn mà chúng ta đặt cho nó cái tên là ‘‘dòng thời gian’’. Cho nên theo tác giả, nếu chúng ta còn bị trói trên dòng thời gian thì chúng ta sẽ chịu cảnh già nua tàn tạ như cảnh hoàng hôn bóng xế, như ngọn nến cháy sắp lụi tàn.

không đầu
không cuối
hỏi thời gian
dăm nỗi bâng quơ
vực bóng tà
có là sót lại
tàn thu cũ
con mắt trần gian
không trở lại
ngọn nến nào
khêu cháy
nhỏ
vơi

*


Nếu chúng ta có ý tưởng (idées / ideas), chúng ta biến chúng thành cảm hứng (inspirations) để viết văn làm thơ, nhưng đó chỉ là những bài thơ thuần túy dù đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, nhưng vẫn là những bài thơ không thâm thúy, không huyền nhiệm. Chính cái tư tưởng (pensées / thoughts) bao hàm triết học và tâm linh mới tạo ra những tác phẩm văn xuôi và những áng thơ nhập vào cái bàn thể của vạn pháp, của hiện hữu và mới làm xao xuyến nội giới độc giả, mới đưa độc giả đối diện với cái huyền cơ của của vũ trụ. Cho nên tuy văn đàn có rất nhiều phê bình gia về văn chương, nhưng đa số chỉ là phê bình ‘‘da’’ tức là họ chỉ nhận định cái lớp biểu bì của văn chương, chứ chưa vào lớp thịt của văn chương, nói chi vào đến cốt tủy được. Bởi vậy người ơi, Nguyễn Vy Khanh chỉ có thể bình giảng loại văn chương hiện thực, tân hiện thực theo cách thức bình giảng mô phạm trong chương trình dạy quốc văn ở bậc trung học. Bởi vậy Nguyễn Hưng Quốc chưa chi mà giở trò ngụy biện một cách hí hởn ngang tàng, mới khen lấy khen để bài thơ ‘‘Con Cóc’’ và cho rằng đó là bài thơ tuyệt tác. Bởi vậy nhà văn Võ Phiến khi ung dung đánh đu nhảy qua lãnh vực phê bình cho rằng thơ không cần hồn mà chỉ cần xác, tức là không cần ý mà chỉ cần lời. Và cũng bởi vậy những nhà văn của chúng ta vẫn chưa có ai xứng đáng là nhà văn kiêm tư tưởng gia. Có phải chăng sục c... trước bàn thờ qua văn chương Kiệt Tấn mới là hành động ẩn tàng triết học, mới là cách giải phóng toàn diện con người? Chắc hẳn là không rồi, người ạ. Đó chỉ là cơn điên của kẻ đánh mất giáo dục và nhân phẩm. Cũng không phải chỉ viết dăm ba nhân sinh quan quen thuộc như Nguyễn Mộng Giác mà được Võ Phiến cùng một nhóm vệ tinh của anh ta tấn phong thành một triết gia. Nhân sinh quan là những nhận định căn cứ trên hiện tượng của vạn pháp, trên khái niệm của con người chưa từng thấu triệt tâm linh và triết học, trong khi đó triết học và tâm linh thì nhắm vào bản thể của hiện hữu, đi sâu vào cái bí nhiệm khó nghĩ bàn của đối tượng quan sát. Tuy nhiên, Hồ Hữu Tường, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Đặng Phùng Quân và đôi khi Nguyễn Mạnh Côn (qua các truyện quái dị / les contes fantastiques) vẫn cố gắng thực hiện những tác phẩm sâu sắc hơn loại văn chương hiện thực, tân hiện thực đến hồi héo úa. Còn những nhà thơ chỉ có dăm ba người dám đi sâu vào lãnh vực đạo ca có giá trị như Thân Thị Ngọc Quế, Như Chi, Đặng Thị Quế Phượng, Giản Chi ( qua một đôi bài thôi), Tuệ Sĩ, Võ Chân Cửu, Nguyễn Tôn Nhan, Thường Quán, Vĩnh Hảo và Vũ Tiến Lập.

HỒ TRƯỜNG AN



Bài khác
05.09.2010 21:30 - ̣người Việt NAM Ở ANH QUỐC THỐNG LÃNH DỊCH VỤ trồng cần sa VÀ BUÔN BÁN CẦN SA
02.09.2010 15:00 - BÀI 6.- GIÁO CHỦ HÙYNH PHÚ SỔ ĐÃ BỊ VMCS GIẾT CHẾT MẤT XÁC, KHÔNG TÒAN THÂY TỪ 1947, HAY CÒN ĐANG…“VẮNG MẶT”?
01.09.2010 09:10 - BÀI 2.- PHẢN ÁNH ”TÂM TƯ T.T. THIỆU” CỦA NG.TIẾN HƯNG: ĐÂY, THẬP ĐẠI ÁC TỘI CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU
15.08.2010 22:00 - BÀI 5.- JESUS CHRIST VÀ HÙYNH PHÚ SỔ ĐÃ LÂM CẢNH “LƯỠNG ĐẦU THỌ ĐỊCH”, NHƯNG Ý NGHĨA 2 CÁI CHẾT HÒAN TÒAN KHÁC NHAU!
11.08.2010 13:40 - ĐẠI HỘI NHÀ VĂN BỊT MỒM TRẤN MẠNH HẢO!

Chỉ Thành viên mới được gửi bài và nhận xét.
Người gửi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết của mình!
Đăng Nhập
Tên thành viên:

Mật mã:

Nhớ Đăng-Nhập



Quên mật khẩu?

ĐĂNG KÝ thành viên!
DVN - Giờ
Ai đang Online
15 người đang xem (14 người đang xem chủ đề: Chuyên đề)

Thành viên: 0
Khách: 15

xem tiếp...
Counter
Hôm nay: 1247124712471247
Hôm qua: 2305230523052305
Total: 1052633105263310526331052633105263310526331052633
Việt Nam TV Online
Tìm kiếm
BBC
RFA Radio
RFI Radio
copyright (c) 2007-2008 Đặng Văn Nhâm All right reserved