 CHÚC PHÚC NGÀY XUÂN [1/2]
Nguyên tác của đại văn hào Trung quốc
LỖ TẤN
ĐẶNG VĂN NHÂM chuyển ngữ
LỜI NÓI ĐẦU.- Như mọi người đều biết, phần lớn những phong tục và tập quán cổ truyền về ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Việt Nam đều bắt nguồn từ nền văn hoá Trung Quốc, phái Tống Nho, hàng mấy ngàn năm về trước. Ngoài ra còn có cả những phong tục “gả bán" vợ chồng, tứ thân phụ mẫu, mẹ chồng cũng như mẹ đẻ,”Dâu hiền là gái, rể hiền là trai"... Tục mẹ chồng có quyền độc đoán, hành hạ con dâu, tạo nên thành kiến “mẹ chồng nàng dâu" và câu tục ngữ: "Mất tiền mua mâm, đâm cho thủng", ý nói mẹ chồng tốn tiền cưới con dâu về, có quyền hành hạ con dâu cho đã đời, cho thoả mãn ác tính v.v... Hơn thế nữa, người phụ nữ còn phải giữ đủ: "tam tòng, tứ đức", có bổn phận thủ tiết thờ chồng sau khi chồng chết. Muốn tái giá, người thiếu phụ phải chờ được phép của quan chức sở tại. Tự tiện, bị phạt nhục hình, và bị dư luận khinh khi!
Riêng về tục lệ cúng giỗ ông bà tổ tiên trong 3 ngày xuân Tết, người phụ nữ phải lo chu tất các món cỗ bàn, nhưng không được vái lạy trước bàn thờ. Vì bị thành kiến cổ truyền là sinh vật thiếu thanh khiết. Nhất là những người đàn bà đã tái giá. Chỉ có người đàn ông gia trưởng, hoặc cháu trai đích tôn mới có quyền và có vinh dự ấy.
Từ sau cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc năm 1945, người phụ nữ Việt Nam đã được hưởng nhiều tự do hơn các thế hệ trước. Sau biến cố Cộng sản năm 1975, hàng triệu người VN đã lưu vong ra hải ngoại, người phụ nữ VN ở hải ngoại càng tự do hơn, chẳng kém gì phụ nữ Tây phương. Nhất là giới phụ nữ trẻ sinh trưởng ở hải ngoại ngày nay có lẽ chẳng mấy ai biết gì về những cái tai ách nặng nề mà thế hệ phụ nữ ngày xưa ở VN và ở bển Tàu đã phải gánh chịu một cách thảm thương.
Nay nhân dịp xuân về trên đất khách, tôi xin cống hiến quí vị một truyện ngắn của đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn, đã cực tả được các khía cạnh phong tục cổ truyền của người Trung Hoa xưa, mà cũng là phản ánh xã hội VN xưa thời phong kiến. Cái hay, cái dở để bạn đọc tuỳ xét. ĐVN[
TIỂU SỬ LỖ TẤN.-
Sau đây là vài hàng giới thiệu về tác giả LỖ TẤN. Ông sang năm 1881, tên thật là Chu Sử-Yên. Ông ra đời trong một gia đình học thức, nhưng sau khi thân phụ ông qua đời đã chẳng để lại cho mẹ con ông một tài sản gì. Gia phong rất đạm bạc. Cảnh mẹ goá con côi vô cùng khó khăn, khổ sở. Nhưng về sau, nhờ bà mẹ siêng năng tần tảo, ông cũng đã được nuôi ăn học đến nơi đến chốn. Ông đã được đi du học ở Nhật Bản về ngành y khoa.
Sau khi cuộc cách mạng năm 1911 thành công, ông về ở Bắc Kinh, đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc thức tỉnh giới trí thức Trung Hoa. Ông là một tác giả viết truyện ngắn được ưa chuộng nhất, và đã tạo được nhiều ảnh hưởng nhất trong quần chúng... ***
Không khí những ngày cuối năm đã trở nên rộn rịp khác thường. Mỗi ngày qua sự rộn rịp náo nức càng gia tăng thêm cường độ. Nhất là trong những ngày gần kề 30 tết, những âm thanh hỗn độn, ồn ào, lại càng thêm kỳ lạ, khó tả.
Trong bầu không khí khác thường đó,một đêm kia tôi đã trở lại xã Lộ Chinh, quê hương tôi, để ăn tết theo thường lệ. Tôi gọi nơi đó là quê hương, nhưng thực sự tôi chẳng có gia đình, nhà cửa gì ở đó cả. Tôi về đó,tạm trú nơi nhà người chú, lớn hơn tôi đến mười mấy tuổi, mà tôi thường gọi là "Chú Lao Tứ", hay còn gọi là "ông Hàn Lao Tứ", một chức hàm mà chú đã dành tiền để mua, làm cho nở mặt nở mày với bà con thiên hạ. Vì gia đình chú thuộc vào hàng khá giả. Chú lại có tính rất bảo thủ, yêu thích những danh vị, chức tước, và nhất là đặc biệt tôn trọng những phong tục cổ truyền .
Lần này tôi nhận thấy chú có vẻ hơi già hơn xưa. Sau khi chào hỏi qua loa, chú cũng nói, tôi trong có vẻ mập mạp hơn ngày trước. Vì tuổi tác và tánh tình khác biệt, nên tôi với chú Lao Tứ không mấy hoà hợp, nhưng cũng chẳng có gì xung khắc.
Hôm sau, tôi thức dậy rất muộn. Sau khi ăn cơm trưa, tôi đi thăm bà con thân quyến và mấy người bạn trong vùng. Mấy ngày liền sau đó tôi cũng tiếp tục đi thăm như thế. Tôi thấy hầu như mọi người đều có vẻ già hơn chút đỉnh, nhưng chẳng có thay đổi gì quan trọng. Nhất là ai cũng tỏ ra rất bận rộn trong những ngày cuối năm, lo nấu nướng cỗ bàn, để cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người trong gia tộc đã khuất bóng. Đây là những ngày đại lễ ở Lộ Chinh. Mọi người đều cố gắng tỏ lòng kính tín, và bảo tồn truyền thống gia tiên, cùng với những tục lệ cổ truyền. Người ta đua nhau giết gà, giết vịt, mua thịt heo, làm những món ăn ngon để bày lên bàn thờ gia tiên. Đôi tay của mấy người đàn bà, con gái đều đỏ ửng, vì phải dầm lâu trong những chậu nước sôi để làm lông gà, lông vịt.
Từ sáng ngày 30 tết, trên bàn thờ gia tiên lúc nào cũng sáng trưng đèn, nến và khói nhang toả mù mịt. Những người đàn ông quỳ lạy trước bàn thờ, khấn vái tổ tiên, mời những người khuất bóng về cùng hưởng thụ cỗ bàn do con cháu đã đặt ra với tất cả tấm lòng thành. Sau đó là những tràng pháo nổ ròn tan, vang rền trong không khí.
Tết năm nào cảnh ấy cũng lập đi lập lại giống hệt, trong khắp mọi nhà, và ở khắp mọi nơi trên quê hương tôi. Dĩ nhiên, ngoại trừ những nhà nghèo khó, không có tiền ăn, lấy đâu ra tiền mua nhang đèn để cúng quải.
***
Buổi chiều, sau khi đi thăm một người bạn ngoài tỉnh trở về, bất ngờ tôi đã gặp chị Liên bên con rạch. Mặc dù những người ở Lộ Chinh tôi đã gặp đều chẳng có gì thay đổi mấy, nhưng riêng chị Liên thì khác hẳn. Nước da chị trắng bệch, gương mặt hốc hác nhuốm màu vàng nghệ. Trông chị có vẻ tiều tuỵ rã rời và không còn ra vẻ một người đàn bà giữa tuổi thanh xuân nữa. Chị trông giống như một bức tượng gỗ, mà nhà điều khắc đã dùng để cực tả vẻ đau buồn, khổ sở của con người. Nhìn chị, thấy đôi tròng trắng mắt động đậy chậm chạp, người ta mới biết rằng cái tượng gỗ khổ đau kia là một động vật còn sống. Chị Liên đứng đó, một tay chống chiếc gậy tre, một tay cầm cái rổ đựng vỏn vẹn một cái chén bằng vỏ dừa khô. Hiển nhiên chị đã trở thành một người ăn mày.
Tôi vẫn bước đi, nhưng thấy chị còn cố ngoái theo, nên tôi dừng chân lại, có ý chờ chị đến xin tiền. - Chào cậu đã trở về. - Vâng. - Hay lắm! Cậu về rất đúng lúc. Cậu là một người có học, hiểu biết rộng rãi và dồi dào kinh nghiệm, xin cậu cho phép tôi được hỏi một câu. Được không cậu?.
Mặc dù tôi đã tự hỏi và ước đoán đến hàng ngàn lần trong đầu, nhưng vẫn không thể nào biết được rằng chị ấy muốn hỏi tôi điều gì. Tôi bỗng trở nên bối rối và chỉ đứng im một chỗ.
Chị nhích lại gần tôi hơn một chút, và hạ giọng nói với vẻ bí mật và nghiêm trọng. - Câu hỏi như thế này đây cậu: "Khi người ta chết, linh hồn có còn tồn tại hay không?"
Tự nhiên tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dài trong xương sống. Đôi mắt của chị cắm thẳng vào mắt tôi như những cái gai. Tôi cảm thấy vô cùng bối rối, hơn cả khi còn là một đứa học trò nhỏ đi thi, có vị giám khảo đứng kế bên, nêu lên một câu hỏi bất ngờ .
Vấn đề linh hồn thì tôi đâu có lạ gì cho lắm. Nhưng tôi phải trả lời thế nào đây? Trong một thoáng, tôi chợt nhớ ra, những người dân trong vùng Lộ Chinh này vẫn thường tin rằng, linh hồn con người, bằng cách này hay cách khác, vẫn còn tồn tại. Như vậy, chắc hẳn chị Liên cũng bị tiêm nhiễm ảnh hưởng của họ mà tin tưởng như họ. Tôi nghĩ,tôi cũng có thể trả lời chị một câu lưng chừng, rằng vấn đề ấy hãy còn là một nghi vấn. Nhưng không, tôi thấy tốt hơn nên trao cho chị một niềm tin, một hy vọng, để chị sống với niềm hy vọng ấy. Tại sao tôi lại nỡ nhẫn tâm đặt cả một gánh nặng lên đôi vai của một người đàn bà đã suy nhược đến rã rời, và đang phải lê bước trên khúc đường cùng của cuộc đời. Để giúp chị phần nào, tôi nghĩ nên trả lời là có.
Tôi đáp: - Có thể. Tôi nghĩ là còn tồn tại. - Như vậy thì cũng có cả Địa Ngục nữa chứ?. - " Địa Ngục" à? Tôi lại bị thêm một cú bất ngờ nữa. Lần này tôi chỉ biết tìm lời an ủi chị. Địa Ngục à? Theo lẽ thông thường thì chắc phải có địa ngục đấy. Nhưng về mặt khác, người ta e rằng không có. Cái đó đâu có nghĩa lý gì? - Tất cả những người trong một gia đình, sau khi đã chết đi rồi sẽ gặp lại nhau, diện đối diện dưới địa ngục. Có phải thế không cậu? - "Diện đối diện"? Tự nhiên tôi cảm thấy mình như một kẻ ngu đần, ngớ ngẩn. Tất cả những học hỏi, khôn ngoan, hiểu biết của tôi bây giờ bỗng trở thành hoàn toàn vô nghĩa. Bỗng nhiên tôi đã bị tấn vào thế bí trong một góc tường, trước ba câu hỏi không đâu. Tôi đã toan tự giải thoát khỏi cái vòng trói buộc vớ vẩn này bằng cách phủ nhận tất cả những gì tôi vừa nói. Nhưng trước cặp mắt đau khổ, van lơn và chứa đầy nghiêm trọng của chị đang chăm chú đặt vào tôi, tôi cảm thấy không thể nào làm như vậy được. - Thực sự tôi cũng chẳng biết gì nhiều về chuyện đó, nên tôi không dám xác nhận hoặc là phủ nhận.
Chị Liên không nói gì thêm nữa. Lợi dụng cơ hội chị còn đứng im lặng, tôi vội vàng nhanh chân rảo bước, chuồn thẳng về nhà chú Lao Tứ, với một tâm tư nặng trĩu ray rứt. Tôi cứ nghĩ lẩn quẩn, có thể câu trả lời ấy của tôi đã tạo thêm đau đớn cho chị. Nhất là trong dịp tết nhất này, trong khi mọi nhà đều cúng giỗ,cầu khẩn hương linh người vắng mặt, và mọi gia đình đều đoàn tụ yên vui,thì chị ta lại phải kéo lê cuộc đời cô đơn, lẻ loi, đau khổ.
**
Tối hôm ấy, tôi cứ nghĩ lẩn quẩn mãi về câu chuyện linh hồn người chết có còn tồn tại hay không, và những câu trả lời của tôi cho Liên. Vì thế tôi không muốn gặp ai khác, tôi nằm im lặng một mình trong phòng. Nhưng bên tai tôi vẫn thoáng nghe những mẩu chuyện vụn vặt, đứt quãng, chẳng ra đầu cuối gì từ phòng chú tôi vọng sang. Dường như mấy người trong nhà chú tôi đang bận thảo luận về một biến cố gì khá nghiêm trọng vừa mới xảy ra, đã khiến cho cả nhà phải bực dọc không ít. Bỗng một lát sau tất cả đều im lặng, không ai nói lời nào, duy một mình chú Lao Tứ bỗng nổi trận lôi đình quát tháo ầm ĩ. Chú còn nện mạnh gót trên nền nhà, để biểu lộ sự bực tức trong lòng, vừa nói: - Không trước một ngày, không sau một ngày. Chọn đúng ngày hôm nay, nó làm như vậy. Chỉ nội chuyện này thôi cũng đủ chứng tỏ nó thuộc giống người vô liêm sỉ rồi ! Tính tò mò của tôi bỗng biến mất, thay thế cho cảm giác khó chịu. Tôi cảm tưởng những lời đay nghiến ấy dường như có liên quan ít nhiều đến tôi. Tôi bước qua phòng đó, mở cửa nhìn vào. Mọi người đều đã biến mất. Tôi cố nén lòng sôi nổi, bồng bột xuống, và kiên nhẫn đợi chờ,cho đến khi có người gia nhân vào châm thêm nước sôi vào bình trà cho tôi. Trước hết, tôi muốn sự nghi hoặc trong lòng tôi được giải toả. Tôi hỏi: - Hồi nãy, Chú Lao Tứ vừa nổi trận lôi đình, đay nghiến ai vậy? - Thì chị Liên, chứ còn ai vào đấy nữa?! Tên gia nhân này trả lời giọng nhà quê cộc lốc. - Chuyện gì vậy? Tôi hỏi với vẻ lo ngại. - Chị ấy vừa mới tắt hơi. - Chị ta chết rồi à?! Theo tục lệ cổ truyền nơi đây, trong mấy ngày Tết chẳng ai dám dùng đến những danh từ mà người ta cho là độc địa, cần kiêng cữ như: chết chóc, thảm hoạ, cướp của giết người v.v... Người ta phải nói trớ đi. Nhưng tôi thì chẳng cần kiêng cữ cái quái gì. Tôi cứ nói bừa. - Chị ta chết hồi nào? - Lúc chập tối. Có thể... Nhưng tôi không biết chắc vào lúc nào. - Tại sao mà chị ta chết? - Tại sao chết? Còn gì khác hơn là đói khát, kiệt quệ !
Tên gia nhân trả lời tỉnh bơ, và cũng chẳng buồn ngó mặt tôi, nó đi ra thẳng.Cái tin chị Liên vừa chết làm tôi không khỏi kinh hoảng. Để trấn an lương tâm, tôi cố tự nhủ rằng tôi hoàn toàn vô can trong việc này. Tôi đến ngồi bên Chú Lao Tứ, định bụng sẽ gợi chuyện về cái chết của chị Liên. Nhưng trong không khí của ngày 30 tết, tôi cảm thấy, lúc nào chú cũng đang sống khép mình trong bốn bức tường lễ nghi tôn giáo, và phong tục cổ truyền, đầy thiên kiến và kiêng cữ dị đoan. Hiển nhiên trong lúc này tôi không thể nào khơi lên những câu chuyện có liên quan đến sự chết chóc, bệnh tật, tội ác, cùng những điều bất hạnh với chú.
Cả đêm hôm ấy tôi không sao chợp mắt được. Tôi ngồi một mình bên ngọn đèn dầu leo lét, lòng nghĩ miên man đến thân phận của người đàn bà bạc phước vừa nằm xuống, nhắm mắt ngàn thu, giữa lúc khắp nơi trong thiên hạ mọi người đang nô nức sửa soạn cúng giỗ ông bà, tổ tiên và đốt pháo rộn rã mừng xuân. Người đàn bà ấy đã trải qua một thời kỳ sinh sống dưới mái gia đình này. Nay chị ta bỗng chết đi, và bị ném vào một nơi vô thừa nhận, chẳng khác nào một món đồ chơi của trẻ con đã bị vứt vào thùng rác khi hư hỏng.
Thực ra, tôi chẳng biết gì về chuyện sau cái chết, linh hồn con người có còn tồn tại hay không. Nhưng điều mà tôi có thể nói quả quyết, không sợ nhầm lẫn bao nhiêu là: những kiếp người như kiếp sống của chị Liên, thì chẳng nên sinh ra trong cõi đời này làm gì. Như thế sẽ tránh cho chị khỏi bị tủi nhục, khổ sở, và phải sống cả một chuỗi ngày dài từ nhỏ cho đến khi khôn lớn, tới tận lúc lâm chung chỉ toàn khổ đau và nghèo đói.
***
Chị Liên vốn không phải là người sinh trưởng ở Lộ Chinh. Vào một năm xưa, trước mùa đông đến, người ta thấy chị theo chân bà lão Vương bán hàng rong vào xóm, nói là đi kiếm việc làm. Lúc ấy, may sao nhà ông Hàn Lao Tứ cũng đang cần người giúp việc. Thế là bà Vương đã đem chị Liên đến giới thiệu với vợ chồng ông Hàn Lao Tứ. Chị mặc cái áo cánh màu nâu và cái quần đen cũ đã bạc màu. Trên đầu chị quàng kín một cái khăn rằng, loại khăn của những người làm công trong vùng rừng núi. Trông chị khoảng chừng mới ngoài hai mươi tuổi. Nước da ngăm đen,đôi má ửng hồng, chứng tỏ một sức khoẻ tiềm tàng. Theo lời bà Vương thì chị Liên là con gái của một bà cụ bạn. Vì chồng chết sớm, theo lời chị kể, nên chị đã phải đi kiếm việc làm để sinh nhai và nuôi mẹ.
Ông Hàn Lao Tứ nghe nói, khẽ nhíu đôi lông mày, và bà vợ ông ta thấy thế cũng hiểu ý chồng. Ông lão Tứ vốn không thích mướn những người đàn bà goá chồng. Nhưng bà ta quan sát chị Liên rất tỉ mỉ, nhận thấy đôi tay và đôi bàn chân của chị ta vạm vỡ, to lớn khác thường, chứng tỏ chị là người siêng năng và khoẻ mạnh, không kém gì những gã đàn ông. Hơn thế nữa,cặp mắt của chị luôn luôn nhìn thẳng vào người đối thoại, chứng tỏ chị là người thành thật, và sẵn sàng chấp nhận số phận cũng như mọi hoàn cảnh của mình, dù là phải làm việc cực nhọc, vất vả suốt ngày. Vì thế mà bà Lao Tứ đã không bận tâm mảy may đến cái nhíu mày của chồng, quyết định cho chị Liên vào làm công trong nhà.
Trong 3 ngày đầu tiên làm việc, chị Liên đã tỏ ra vô cùng sung sức và cần mẫn. Sức chị làm việc thực sự còn khoẻ mạnh và dẻo dai hơn cả bọn lực điền vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, lông nách một nạm, trà tàu một hơi. Bà Lao Tứ rất hài lòng, nên vui vẻ trả công cho chị mỗi tháng 400 quan .
Tất cả mọi người đều gọi chị cách thân mật là chị Liên, chẳng ai buồn hỏi thêm là chị mang họ gì. Tánh tình chị Liên cũng chẳng khác gì những người nông dân trong vùng núi bao nhiêu, rất ít nói, suốt ngày im như hến. Có ai hỏi điều gì, bắt buộc phải trả lời, thì chị chỉ đáp bằng những câu thật ngắn gọn, đến gần như cộc lốc. Mãi đến 10 ngày sau, mấy người trong gia đình phải gạ chuyện mãi mới tìm hiểu thêm được vài chi tiết về gia cảnh của chị. Chị Liên hiện có một bà mẹ chồng đang ở nhà, cùng với một người em trai chồng, nhỏ hơn chị đến 10 tuổi, đang sinh nhai bằng nghề đốn củi. Còn chồng chị thì vừa mới qua đời vào mùa xuân năm ngoái. Đó là tất cả những gì mà người ta đã phải tốn nhiều công phu mới moi ra được khỏi cửa miệng của chị.
Ngày lại tiếp nối ngày, chị Liên vẫn làm việc cần mẫn, không ngừng nghỉ giây phút nào, hết ngày nọ sang ngày kia, không một lời than thở. Tất cả mọi người trong xã đều kháo nhau rằng gia đình ông Hàn Lao Tứ đã kiếm được một người làm công siêng năng, giỏi giang, lanh lẹ, còn hơn cả bọn đàn ông. Nhân dịp ngày Tết, một mình chị Liên còn đảm đương hết mọi việc, lau chùi bàn ghế, quét dọn sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ. Chỗ nào cũng láng bóng như lau như li.
Trên bàn thờ, chị Liên cũng lau chùi sạch sẽ tinh tươm. Mấy bộ đồ thờ, như chân đèn, lư nhang bằng đồng cũng đã được chị Liên lau chùi bóng loáng. Ngoài ra, vẫn một tay chị còn làm gà, làm vịt, làm cỗ bàn, để cúng ông bà cách rất tinh tươm.
Năm ấy, khi mấy ngày Tết nhất vừa qua, chị Liên bưng rá gạo ra ngoài con rạch gần nhà để vo gạo, bỗng chị hớt hải bưng rá gạo chạy mải về, với vẻ đầy lo sợ hốt hoảng. Chị kể trong lúc vo gạo, bỗng chị thấy bên kia bờ rạch xuất hiện một người đàn ông to lớn, lực lưỡng, trông giống hệt như người anh em họ của người chồng đã chết của chị. Chị sợ người đàn ông ấy đến bắt chị đem đi. Bà Lao Tứ nghe kể cũng không khỏi giật mình lo sợ và nghi ngờ. Tại sao hắn ta lại đến bắt chị đi?
Bà Lao Tứ hỏi nguyên nhân,chị Liên cũng không chịu trả lời gì cả. Khi câu chuyện lọt đến tai ông Lao Tứ,ông ta mới cau mày và nói: - “Chuyện phiền thật. Có thể là chị này đã bỏ nhà trốn đi !"
Ông Hàn Lao Tứ đoán lơ mơ thế mà trúng phốc. Chị Liên đúng là một goá phụ,đã bỏ nhà trốn đi. Khoảng độ mươi ngày sau,khi mọi người đều đã bắt đầu quên dần câu chuyện vừa qua, bỗng một hôm bà Vương lại lù lù xuất hiện. Lần này bà ta cùng đi với một người đàn bà khác, tự nhận là mẹ chồng của chị Liên. Bà già này có vẻ khôn ngoan và giảo hoạt. Bà ta biết phép giao tế và biết cách mở đầu câu chuyện. Sau khi đã chào hỏi qua loa chủ nhà, bà ta đi thẳng ngay vào vấn đề.
Trước hết, bà tự giới thiệu là mẹ chồng của chị Liên, nay bà đến đây để xin đem chị Liên về nhà. Vì bây giờ là đầu xuân, có rất nhiều việc cần phải làm, nhưng lại chẳng ai cáng đáng. Trong nhà chỉ có một người đã quá già, yếu không đủ sức, và một người quá trẻ. Bởi thế bà ta cần phải đem chị Liên về . - Vì chính bà là mẹ chồng của chị Liên đã ngỏ lời yêu cầu như thế, thì làm sao chúng tôi có thể từ khước được?! Ông Hàn Lao Tứ nói.
Lập tức vợ chồng ông Hàn Lao Tứ tính tiền lương của chị Liên. Tổng cộng là 1750 quan. Số tiền lương, đầy mồ hôi và nước mắt ấy, chị ta đã không dám tiêu vào đó một xu nào. Bây giờ không có mặt chị Liên ở trong nhà, nhưng vợ chồng ông Hàn Lao Tứ và bà mẹ chồng của chị vẫn tự tiện tính tiền và trao tiền cho nhau, chẳng cần đếm xỉa gì đến ý kiến của chị. Sau khi đã nhét tiền vào túi, bà mẹ chồng còn tom góp hết áo quần của chị, rồi ngỏ lời cám ơn vợ chồng ông Hàn Lao Tứ để ra về. Vẻ mặt bà tươi rói. Lúc ấy mặt trời đã đứng bóng, quá trưa.
Sau khi khách đã đi rồi, bà Lao Tứ mới chợt nhớ đến chị Liên, đã đi ra ngoài rạch để vo gạo từ lâu sao mãi đến giờ này vẫn chưa thấy về. Có bao giờ chị chậm chạp đến thế đâu. Mọi người cảm thấy có điều gì bất tường, vội chia nhau túa ra đi tìm. Bà Lao Tứ sục xuống bếp, vào phòng ngủ, chẳng thấy gì. Ông Hàn Lao Tư ù vội vã phóng ra phía rạch thì thấy bên bờ còn nằm chỏng chơ cái rá gạo.
Theo lời kể lại của một vài người đã chứng kiến tận mắt tấn tuồng đã xảy ra ngoài bờ rạch, thì sáng sớm hôm nay bỗng có một chiếc thuyền đã đến đậu bên bờ rạch. Lát sau thì chị Liên xuất hiện với rá gạo trên tay. Chị vừa cúi xuống, định bắt đầu công việc,thình lình có 2 người đàn ông lực lưỡng, xông đến dùng cường lực áp giải chị đi về phía chiếc thuyền. Những người đàn ông ấy có vẻ là những người vùng núi. Họ đã cưỡng bách đem chị Liên xuống thuyền. Thoạt tiên,chị Liên đã kêu gào cầu cứu nhưng chẳng ai dám dính dáng vào. Giây lát sau thì người ta không còn nghe tiếng kêu cứu của chị nữa. Chắc chị đã bị nhét giẻ vào mồm.
Khi tấn tuồng bắt cóc ấy xảy ra, thì là lúc bà mẹ chồng của chị Liên đang nói chuyện với vợ chồng ông Hàn Lao Tứ ở trong nhà. -“Như thế này thì loạn thật !"
Ông Hàn tỏ vẻ bất bình, làu nhàu. Nhưng sau khi đã suy nghĩ lại, ông dịu giọng xuống ngay, và lẩm bẩm một mình: "Nhưng xét về khía cạnh khác thì..."
Hôm ấy, bà Hàn phải nấu cơm lấy một mình và thằng con trai nhỏ là A Níu phải chụm lửa cho mẹ.
Đến chiều bà Vương lại quay trở lại. - “Loạn thật!" Ông Hàn đã dùng câu ấy để chào bà Vương. - “Ai vậy?! Hay quá đi mất ! Sự có mặt của bà đã làm cho chúng tôi hãnh diện quá lắm!" .
Bà Hàn đang rửa chén bát trong bếp cũng ngưng tay, giận dữ nói kháy bà lão môi giới: "Hôm trước, chính bà là người đã đem chị ấy đến đây giới thiệu với vợ chồng tôi, rồi hôm nay lại cũng chính bà đã dắt mấy người khác đến bắt chị ta đi mất. Thực là động trời động đất ! Bà thử nghĩ xem thiên hạ sẽ nghĩ như thế nào về bà? Bộ bà muốn giỡn chơi với vợ chồng tôi hay sao chứ?" - "Ấy chết, xin bà tha lỗi cho ! Chính tôi là người đã bị xí gạt và làm trò hề cho thiên hạ cười. Tôi trở lại đây chính là để giải thích cho ông bà biết rõ sự tình. Tôi đâu có biết chị ấy trốn nhà ra đi. Chị ấy đến nhờ tôi kiếm dùm việc làm. Tôi nghĩ, chị ấy là người chịu khó. Chứ tôi đâu có ngờ chị ta đã dám qua mặt bà mẹ chồng, và chẳng còn tôn trọng luật vua lệ làng gì cả. Tôi còn mặt mũi gì mà nhìn ông bà nữa. Đó là phần lỗi về tôi. Bởi tôi là một mụ già quê mùa ngu đần, nhẹ dạ quá, ông bà ạ !
Nhưng may nhờ gặp được ông bà là chỗ gia giáo, lại rộng lòng nhân đạo mà không nỡ quở phạt nặng nề kẻ hèn mọn này. Vậy tôi xin đội ơn ông bà và cam đoan rằng, lần tới tôi sẽ tiến cử đến ông bà một người làm công giỏi gấp đôi chị ta. Như thế để bù lại cái lỗi mà tôi đã vấp phải vừa rồi." - "Nhưng...." Ông Hàn ngắt lời bà, nhưng lại không nói gì thêm gì nữa, mà bỏ đi chỗ khác.
Thời gian trôi qua, nhưng gia đình ông Hàn vẫn không quên được chị Liên . Chỉ vì bà Hàn đã gặp phải không biết bao nhiêu khó khăn, và bất như ý với những người làm công, kế tục chị Liên . Những người đàn bà làm công này, chẳng những đã yếu đuối, lại còn lười biếng nữa. Ngoài ra, họ lại còn thuộc loại mèo “bắt chuột không hay, lại hay ỉa bếp", nghĩa là chẳng những lười biếng, không chịu làm việc, lại hay ngủ ngày và hay ăn vụng. (còn tiếp 1 kỳ)
|