Welcome Dang-Van-Nham Website
www.dangvannham.com Ï¿ ޤ󤫡  
Đặng Văn Nhâm
Web Translator
View web pages in other languages:
Video ngẫu nhiên
Bài yêu thích hôm nay

Hôm nay chưa có nhận xét.

Góc nhìn
Bài ngẫu nhiên
Gửi người quen
Võ thuật
Chuyện đề: Danh mục chủ đề
Bí mật hậu trường chính trị miền nam : KỲ 25 - ĐĂNG LẠI QUYỂN I "HẬU TRƯỜNG CHÍNH TRỊ MIỀN NAM" CỦA ĐẶNG VĂN NHÂM
Đăng bởi HiepLi đăng ngày 15.08.2008 12:20 (1218 lần xem)

Kỳ 25:
THỜI TƯỚNG TÁ CẦM QUYỀN NỐI GIÁO CHO GIẶC!

Open in new window- Kể từ khi khôn lớn tôi đã nghe truyền khẩu trong dân gian câu thành ngữ “nói một đàng làm một nẻo”. Tôi không biết đó có phải là một đặc tính của dân tộc VN không; nhưng trong suốt cuộc đời từng trải, tôi nghiệm thấy những chuyện như thế xảy ra nhan nhản hằng ngày. Từ chuyện nhỏ nhặt, vô thưởng vô phạt giữa cá nhân đến chuyện quốc gia đại sự liên quan đến vận mệnh của cả một dân tộc cũng chỉ toàn là... “nói một đàng làm một nẻo”!

Đặc biệt nhất là giới tướng lãnh VNCH. Ngay sau khi vừa nghe lời ngoại nhân, giết chết anh em TT Diệm, những kẻ tôi tớ phản chủ này đã nhất tề cổ võ “cách mạng lật đổ chế độ độc tài gia đình trị”. Dân chúng cả nước ai cũng tưởng họ sắp mở một trang sử mới sáng sủa hơn cho dân tộc. Nhưng không ngờ cả đám liền hè nhau hồ hởi phấn khởi- cầm đầu do Tôn Thất Đính và Trần Văn Đôn!- đã bãi bỏ “luật gia đình“ của bà Nhu, để tha hồ lấy vợ nhỏ, chơi đào nhí và lập tức cho phép các vũ trường mở cửa!

Mặt khác, kể từ cuối năm 1963 đến đầu năm 1975, các giới lãnh đạo chánh trị, quân sự và tôn giáo ở miền Nam đều nhất loạt hô hào chống Cộng. Trong thời gian đó, nhiều người đã được sống vinh thân phì gia nhờ nghề kêu gọi, hô khẩu hiệu chống Cộng. Đặc biệt nhất là các tướng lãnh cao cấp làm chánh trị, lãnh đạo guồng máy quốc gia trong thời kỳ chiến tranh, như: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ v.v... đã tích cực đẩy cả một khối dân tộc khổng lồ, trên 25 triệu người vào cuộc chiến tranh khủng khiếp, vào công cuộc chống Cộng mù quáng song ác liệt, kéo dài hằng chục năm trời dai dẳng, bằng máu xương, bằng tương lai mình, và bằng cả cuộc đời của thân nhân nhân gia quyến mình.

Kết quả cuối cùng, khi bức màn nhung vội vã buông xuống vào ngày 30.4.75, khối đại đa số quần chúng chống Cộng ở miền Nam đã bị thua thiệt đến trắng tay. Trong khi đó, ngược lại, các tướng lãnh, các nhân vật cầm quyền chánh trị, các nhà tu hành chuyên lo hô hào, đôn đốc chống Cộng ở miền Nam, cùng với thân nhân và gia đình của họ đều được an nhàn tiếp tục hưởng cuộc đời giàu sang, phú quí. Nhờ đâu? Thật giản dị, và rất dễ kiểm chứng. Chỉ bởi những kẻ lãnh đạo của miền Nam đã chống Cộng kiểu ”nói một đàng làm một nẻo“ hay gọi bằng cách khác ”chống Cộng bằng mồm”. Trong phạm trù chống Cộng họ đã hành động ”một mặt hai lòng” (double morale). Trên bình diện công khai, họ hăng hái kêu gọi, thúc đẩy mọi người chống Cộng. Nhưng mặt khác, bên trong, họ chứa chấp, bao che và dung dưỡng CS. Tiêu biểu nhất là hành động của các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu.

Từ đầu năm 1960, ông Minh đã bắt đầu liên lạc với các điệp viên của CSBV, trong Ban Binh Địch Vận do Nguyễn Duy Dân chỉ đạo, mà trong đó có sự cộng tác của người em ông Minh, bí danh Mười Ty, tên thật là Dương Thành Nhựt. [theo tài liệu của Hà Nội- nhưng người ở miền Nam lại cho là Dương Văn Nhựt].

Sau ông Minh, Nguyễn Khánh đã phóng thích vợ của Huỳnh Tấn Phát, còn sai nhân viên an ninh hộ tống vào tận mật khu an toàn cho xum họp với gia đình, và lại còn gửi kèm một thư riêng cho Huỳnh Tấn Phát, để dâng công và lấy lòng! Từ năm 1970, một mặt Ng.V.Thiệu hô hào ”BỐN KHÔNG”, nhưng trong hậu trường lại ngầm sai Nguyễn Ngọc Huy vào mật khu điều đình thoả hiệp với CS!
Trong hai ngàn trang của bộ sách này, bạn đọc có thể tự rút ra được rất nhiều chứng liệu nằm vùng xác thực của các nhân vật đáng kể như: ni sư Huỳnh Liên, Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Minh Châu, Thích Mãn Giác… cùng đa số tăng, ni PG đấu tranh miền Trung. Các linh mục Nguyễn Quang Lãm, Ng.Ngọc Lan, Cẩn, Chân Tín..., các tướng lãnh như Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, cựu đại tá nghị sĩ Hồng Sơn Đông... và một số dân biểu, nghị sĩ, chánh trị gia đảng phái... cũng đã ngầm “đi đêm“ với CS.
Tất cả những kẻ ”nằm vùng” ấy đều sống phây phây trong vòng luật pháp. Tất nhiên họ đã được sự che chở của giới cầm quyền cao nhất nước. Ngay cả đến những tay trùm gián điệp chiến lược của CSBV cũng đều được sống an toàn với quyền uy tột đỉnh ngay trong dinh Độc Lập, bên cạnh Nguyễn Văn Thiệu, như: Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ v.v...

HỘI ĐỒNG TƯỚNG LÃNH NỐI GIÁO CHO GIẶC![/

Nhưng tất cả những hành động bao bọc cán bộ CS nằm vùng kể trên, theo tôi, đều vẫn chưa đáng nói bằng vụ các tướng Minh, Khánh, Đơn, Đính, Thiệu, Kỳ, Khiêm... sau khi giết chết anh em TT Diệm, đã công khai dung dưỡng và ngang nhiên giải thoát một cán bộ tình báo chiến lược cao cấp nhất của CSBV hoạt động ở miền Nam là Mười Hương. Chính Mười Hương là người đã tổ chức cán bộ điệp báo nổi tiếng như: ký giả Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý... và xây dựng các cụm gián điệp H.10 và A.22 v.v...
Tuy nhiên, điều cần phải đặc biệt chú ý nhất và bắt buộc tôi phải nêu điệp đây là tay trùm gián điệp Mười Hương đã bị bắt giam từ năm 1958, dưới thời đệ nhất CH. Nhưng ngay sau khi vừa lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, các tướng lãnh VNCH đã họp nhau thành một cơ chế gọi là ”Hội Đồng An Ninh Quốc Gia“ (HĐANQG). Căn cứ trên danh xưng đáng lẽ tổ chức này có trách nhiệm phải bảo vệ nền an ninh quốc gia, tiễu trừ phiến loạn, giặc Cộng và bạo động... Song các tướng đã hành động ngược lại, một mặt lo chụp mũ ”cần lao ác ôn”, mũ ”kinh tài nhà Ngô“ và năng nổ truy lùng những nhân vật liên hệ với chế độ cũ, bắt giam vô thời hạn, lưu đày Côn Đảo... để moi tiền, và trấn lột tài sản. Tức là những hành động tiêu diệt những người QG đã có công bài trừ CS. Nạn nhân điển hình là BS Bùi Kiện Tín, ông Huỳnh Văn Lang cựu giám đốc Viện Hối Đoái, BS Trần Kim Tuyến, ông Cao Xuân Vỹ v.v...
Ngoài Mười Hương, các tướng còn dùng chiêu bài HĐANQG để ngang nhiên ”giải phóng” luôn cho những ”đồng chí cán bộ điệp báo cao cấp“ khác. Trong số đó, có vợ của Huỳnh Tấn Phát, vợ của Nguyễn Bửu Kiếm và Mã Thị Chu (vợ của Nguyễn Văn Hiếu) v.v...

MƯỜI HƯƠNG LÀ AI?

Nếu cái tên Mười Hương đối với đa số quần chúng lao động lam lũ, và giới binh sĩ tầm thường ở VN không mang một ý nghĩa gì đáng kể; nhưng ngược lại đối với giới cầm quyền quân sự, an ninh, tình báo và chánh trị ở miền Nam, cái tên đó chính là một yếu tố then chốt quyết định sự thắng bại của miền Nam. Các tướng lãnh miền Nam phóng thích Mười Hương, sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, năm 1963, chẳng khác nào ”thả cọp về rừng”. Ngay lúc bấy giờ, tôi và BS Trần Kim Tuyến đã có cùng một nhận định chung: các tướng thả Mười Hương vào mật khu chẳng khác nào như một phát súng ân huệ mà các tướng đã bắn trên lưng hàng trăm ngàn chiến sĩ VNCH danh cầm súng ngoài tiền tuyến.

Thuở sinh thời, BS Tuyến đã tâm sự và than thở với tôi rất nhiều về chuyện này. Một phần vì nó nằm trong phạm trù nghiệp vụ của ông. Phần khác nó liên quan mật thiết đến sự sống còn của miền Nam. Trong những giờ phút nằm khoèo tán gẫu với ông, từ hồi ở VN cho đến những ngày ở Cambridge, tôi còn đọc được tâm trạng chua cay thấm thía của một tay trùm mật vụ đã thấy biết rất nhiều, nhưng vì hoàn cảnh éo le trói buộc, đành khoanh tay nhìn bọn võ biền dốt nát, một mặt hai lòng, múa rối. Ông đau đớn nhất khi nghe tin Mười Hương, một đối thủ giá trị đã từng nằm trong vòng tay kềm chế của mình hàng bao nhiêu năm trời nay đã được phóng thích, sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và tiếp tục hoạt động đánh phá miền Nam gần như công khai trước mũi ông. Trong khi đó bản thân ông lại bị mất tự do và bị đối xử nghiệt ngã! Tôi rất thông cảm nỗi đau đớn thầm kín, sâu xa ấy của ông. Đồng thời, tôi biết ông cũng quan tâm đến sự an nguy của tôi, nên nhiều khi ông đã ân cần thủ thỉ dặn dò tôi:
- Về phần cậu, cậu phải thật cẩn thận và kín đáo. Ngay cả ở hải ngoại này cũng thế. Nên nhớ các cụ ta đã dạy: ”Trong thời buổi loạn ly này, khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có biết là sống thôi... Biết đây tức là biết người và biết cả ta nữa đó, Nhâm ạ!...
Vậy, Mười Hương là ai đã khiến cho ông Trùm Mật Vụ của miền Nam phải nhức nhối khi nghe tin đã được tự do?
Mười Hương tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh quán ở Phủ Lý, Nam Định, con trai của nhà thầu khoán xây cất Trần Ngọc Tân. Thuở nhỏ Ban đã học cả chữ Nho và chữ quốc ngữ. Chữ Nho học với ông đồ Trần Đức Quì (sau làm thứ trưởng văn hoá của chánh phủ HCM). Chữ quốc ngữ học ở trường tiểu học Phủ Lý, rồi lên Hà Nội học tiếp ở trường Dòng, và đổi tên là Hương. Khoảng 15, hay 16 tuổi Hương đã bị Tây bắt vì tội hoạt động bí mật cho CS, và bị giam chung với Nguyễn Thọ Trân (chú của Đỗ Mười) và Lê Toàn Thư (bí thư của Trường Chinh).

Sau khi được trả tự do, vì tuổi vị thành niên, Hương liền được hướng dẫn luôn theo CS, và được chuyển về ”An Toàn Khu“ (gọi tắt là:ATK), và làm việc trong ban cán sự tỉnh Phúc Yên. Về sau Hương được Trường Chinh đem về làm thư ký riêng, và là một trong số những người đã có công trong việc tổ chức buổi ra mắt quốc dân của Hồ Chí Minh, ngày 2.9.45, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội).

QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG

Năm 1945, khi phong trào toàn quốc kháng chiến phát khởi, chính phủ CS Hồ Chí Minh lập ra tổ chức gọi là ”giao thông liên lạc an toàn khu”, nắm giềng mối thông tin liên lạc từ trung ương đến các chiến khu. Từ năm 1946 đến 1948, Mười Hương làm việc trong cơ quan này. Năm 1949, Mười Hương được chuyển sang hoạt động trong ngành an ninh tình báo.

Sau hiệp định Genève 1954, Mười Hương đã được Lê Đức Thọ tiến cử đặc biệt trước chánh trị bộ, lãnh công tác gián điệp địch hậu ở miền Nam. Chính các nhân vật chóp bu của miền Bắc, gồm cả Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng... đều tán thành và trực tiếp gặp gỡ, ân cần trao phó công tác cho Mười hương trước khi lên đường vào Nam.

Sau khi đã giả trang với lý lịch nguỵ tạo, khoảng tháng 9.1954, Mười Hương đã được tháp tùng Lê Đức Thọ trong một chuyến bay quân sự của Pháp, cất cánh từ phi trường Gia Lâm vào Nam. Nơi đây, trong thời gian đầu, Mười Hương đã gặp lại các đồng chí quen biết cũ ngoài chiến khu BV là Phan Trọng Tuệ, tư lệnh quân khu 9, và Lê Toàn Thư (cựu bí thư của Trường Chinh, lúc này đang giữ chức Xứ Uỷ Nam Kỳ), và cộng tác với Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm trong lãnh vực an ninh tình báo, mở các lớp đầu tiên huấn luyện cán bộ tình báo. Sau đó ít lâu, vì nhu cầu công tác, Mười Hương được chuyển qua ban ”Địch tình xứ uỷ”, tuy nhiên vẫn tiếp tục mở các lớp huấn luyện về tình báo cho các cán bộ được tuyển lựa trong ngành công an.

Trong thời gian này Mười Hương đã bắt được liên lạc trở lại với Vũ Ngọc Nhạ, vốn là cán bộ đã từng được Mười Hương xây dựng từ khi còn làm Thị Uỷ thị xã Thái Bình. Kế đó, Mười Hương lại có thêm một cán bộ điệp báo quan trọng khác là Lê Hữu Thuý (tên khác là Lê Nguyên Vũ). Trong đường giây điệp báo của cụm A.22 do Vũ Ngọc Nhạ cầm đầu, ngoài Lê Hữu Thuý, Vũ Xuân Hoè, Lê Hữu Ruật, còn có Huỳnh Văn Trọng (lúc đó Trọng đang làm đổng lý văn phòng bộ Nội Vụ, Lê Hữu Thuý làm công cán uỷ viên, thời ông Huỳnh Văn Nhiệm, đại diện của giáo phái Hoà Hảo, làm tổng trưởng). Về sau, qua cầu Hoà Hảo, Lê Hữu Thuý còn được các tướng Năm Lửa, Hai Ngoán tôn sùng như một thứ ”quân sư quạt mo”. Xem thế, ta mới biết, ngay cả trong các tổ chức giáo phái chống Cộng hung hãn nhất ở miền Nam, như Hoà Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa Giáo di cư... đều là hang ổ an toàn của bọn điệp viên CSBV cao cấp nhất!

Riêng trong giáo phái Hoà Hảo, thời cụ Lương Trọng Tường, nghị sĩ Lê Phước Sang, viện trưởng VĐH Hòa Hảo lại còn rước thêm vào Vũ Hạnh, và TS Huỳnh Văn Tòng... Lúc đó, tôi cũng đang cộng tác với GHPGHH, giữ chức tuỳ viên báo chí, phát ngôn viên cho hội trưởng GHPG Hoà Hảo Lương Trọng Tường, và phụ tá viện trưởng viện đại học Hoà Hảo của nghị sĩ Lê Phước Sang. Khi thấy Vũ Hạnh và Huỳnh Văn Tòng xuất hiện bên cạnh Lê Phước Sang, trong viện đại học HH, lập tức tôi phải ”thủ khẩu như bình” và tìm đường khéo léo rút lui êm thắm ngay tức khắc, để bảo tồn mạng sống!
Về sau, ở hải ngoại, tôi đã có dịp kể lại chuyện này cho người bạn học cũ biết. Lê Phước Sang đã vội vã khoả lấp, giả vờ ngạc nhiên hỏi vặn lại tôi:
- Đ. m. sao lúc đó mày không nói cho tao biết?!
Tôi cười đáp:
- Tao nói cho mày biết để vợ tao phải ở goá, con tao bị mồ côi à?
Đã trải nhiều trường hợp tương tự như trên ở VN, đến nay thấy mình hãy sống còn để kể chuyện lai rai cho lớp hậu sinh nghe chơi, đôi khi tôi thầm nghĩ lời ông Tuyến dặn tôi rất có lý ”Khôn cũng chết, dại cũng chết. Chỉ có biết là sống. Biết đó tức là BIẾT NGƯỜI và BIẾT TA đấy!”

Bây giờ tôi xin trở lại chuyện Mười Hương. Ngay sau khi vào Nam, Mười Hương đã xây dựng được một cán bộ điệp báo xuất sắc, đã có công tạo được nhiều thành tích nằm vùng rất kín đáo trong giới báo chí Mỹ ở VN. Đó là ký giả Phạm Xuân Ẩn, bí danh là Hai Trung. Lúc đó Ẩn đang làm thơ ký cho một công sở, và thường làm thông dịch viên cho người Mỹ. Chính Mười Hương đã hướng dẫn Phạm Xuân Ẩn trong việc đi Mỹ học về ngành báo chí. Sau khi tốt nghiệp, Ẩn trở về VN làm việc trong văn phòng đại diện của tạp chí Time ở Sài Gòn.
Với tư cách một ký giả, cộng tác trong một tạp chí lớn có uy tín của Mỹ, Phạm Xuân Ẩn đã tạo được một vỏ bọc rất kiên cố cho nghiệp vụ điệp báo của mình. Trong thời gian làm báo ở quê nhà, đã có dịp quen biết khá thân với Phạm Xuân Ẩn và một số đông tướng lãnh trong quân đội VNCH. Tôi có thể nói đại đa số các tướng lãnh VNCH đều không có tật nọ cũng mắc bịnh kia, tức không trai gái, bê tha, cũng tham nhũng, ăn hối lộ, buôn lậu v.v... nên đã tỏ ra rất kiêng nể giới báo chí ngoại quốc. Giới quân phiệt này có thể bịt mồm báo chí Việt Ngữ dễ dàng bằng nhiều biện pháp dã man, rừng rú, nhưng lại không dám và không thể động được đến một cọng lông chân của báo chí ngoại quốc. Do đó Phạm Xuân Ẩn cũng đã được các tướng nể sợ lây. Từ Ng.Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên, đến Nguyễn Khắc Bình v.v... đều muốn được lòng Phạm Xuân Ẩn, hơn là Ẩn cần phải lấy lòng mấy ông tướng đó để moi tin tức. Vì thế Phạm Xuân Ẩn đã có khả năng cung cấp rất nhiều tin tức quân sự vô cùng giá trị cho quân CSBV. Đối với các điệp viên khác, thường phải có ”hộp thơ”, có ”giao liên bàn đạp”, để chuyển tin cách bí mật, lén lút vào mật khu.

Nhưng riêng Phạm Xuân Ẩn, anh ta đã coi thường guồng máy an ninh tình báo của các tướng lãnh VNCH đến mức không thèm xài ”hộp thư”, cũng chẳng cần đến ”giao liên bàn đạp”. Một tháng đôi ba lần, khi có tin tức quan trọng, nóng hổi cần cấp báo, Ẩn đã đi thẳng vào mật khu như ta đi du ngoạn, để báo cáo trực tiếp cho Mười Hương biết!...
[* Ghi chú thêm: năm 2002, về VN, tôi đã có dịp gặp lại Phạm Xuân Ẩn tại tư gia của anh ở đường Yên Đỗ (nay gọi là Lý Chính Thắng). Được biết, sau ngày 30.4.75, anh đã được CSBV phong quân hàm cấp tướng, và nay thì đã trở thành một viên tướng hồi hưu!...]

MƯỜI HƯƠNG ĐÃ BỊ VÂY BẮT NHƯ THẾ NÀO? TẠI SAO ĐƯỢC THẢ?

Như trên tôi đã kể, Mười Hương vào Nam khoảng tháng 9.54 cùng một chuyến bay với Lê Đức Thọ để hoạt động điệp báo chiến lược do chính Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng uỷ thác. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, khoảng tháng 6.1958, Mười Hương đã bị cơ quan Mật Vụ của BS Trần Kim Tuyến bố trí vây bắt được tại một điểm hẹn ở Gò Vấp.
Nên nhớ dưới thời đệ nhất CH, khả năng tiêu diệt cán bộ CS nằm vùng của cơ quan Mật Vụ rất hiệu nghiệm. Một số cán bộ cao cấp, nếu không bị bắt, [thí dụ như: các điệp viên Minh Văn, Hội, và điệp viên tên Hoàng, trưởng phòng tình báo khu V], hay bị chiêu hồi, ra đầu thú, [thí dụ như các tên Lâm, Đạt, phó bí thư Thừa Thiên, Thưởng, tiểu đoàn trưởng, và tên Thống, trưởng ban kinh tài khu V], thì cũng tìm mọi cách ”chui thật sâu“ để chờ đợi thời cơ.
Trường hợp con cá bự Mười Hương bị sa lưới chính vì một đồng chí của ông ta đã bị cơ quan Mật Vụ khống chế, rồi thả ra cho làm cò mồi để nhừ bắt Mười Hương. Sơ lược diễn tiến như sau: Mười Hương đã được chánh trị bộ thả vào Nam làm gián điệp không bao lâu thì đảng và nhà nước lại bí mật tăng phái thêm một điệp viên có tầm vóc nữa, tên Tam (dĩ nhiên chỉ là ngoại danh như hầu hết các điệp viên CS), vào Nam, với nhiệm vụ phụ tá xứ uỷ đặc trách ngành tình báo, để phối hợp hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược do Mười Hương lãnh đạo. Nhưng không may cho Tam, khi mới xâm nhập vào tới Quảng Trị, đã bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung do Dương Văn Hiếu và Thái Đen chỉ huy, dưới hệ thống của sở Mật Vụ Phủ Tổng Thống, bắt được. Điệp viên Tam bị khai thác mạnh, chịu không nổi, nên đã cung khai hết sự thật và chấp nhận hồi chánh.

Cơ quan Mật Vụ phủ Tổng Thống liền xếp đặt một kế hoạch thật tinh vi, bí mật đem Tam vào Sài Gòn, rồi thả ra cho làm ”cò mồi“ để nhử bắt các đồng chí cộng tác trong mạng lười gián điệp với đương sự. Sự bố trí của sở Mật Vụ khéo léo đến mức tất cả cán bộ cao cấp trong guồng máy gián điệp của CS ở miền Nam không một ai nghi ngờ gì về hành động của Tam. Riêng Mười Hương, là người phải phối hợp công tác chặt chẽ với Tam, sau nhiều lần gặp gỡ tại những điểm hẹn bí mật ở Phú Nhuận, với con mắt tinh ranh già dặn của một điệp viên thượng thặng cũng không phát hiện được một dấu hiệu phản bội nào trong các hành động, ngôn ngữ và cử chỉ của Tam. Vì thế, đến một cuộc hẹn bí mật tại một cơ sở ở Gò Vấp, Mười Hương đã bất ngờ bị nhân viên Mật Vụ PTT vây bắt tại trận.

Thoạt tiên, Mười Hương đã bị Mật Vụ đem về giam trong một nhà kho cũ của Bảy Viễn ở Bình Xuyên. Cuộc thẩm vấn sơ khởi Mười Hương đã do Dương Văn Hiếu, giám đốc Cảnh Sát Đặc Biệt và TT Khanh, giám đốc sở Hoạt Vụ của tổng Nha Cảnh Sát QG đích thân khai thác. Sau đó ít lâu, Mười Hương được đem ra Huế, giam tại nhà lao Toà Khâm...

Sau ngày 1.11.63, sau khi đã thủ tiêu hai anh em ông Ngô Đình Diệm và truy lùng bắt giam những người đã cộng tác mật thiết với chế độ cũ, dù là đã có công rất lớn trong việc tiễu trừ CS, các tướng làm ”cách mạng” như: Minh, Khánh, Đôn, Kim, Khiêm, Có, Thiệu, Kỳ v.v... còn tìm cách ”giải phóng” luôn cho các cán bộ CS cao cấp nằm vùng ở miền Nam, trong số đó có Mười Hương.

Theo tôi, việc các tướng thả Mười Hương ra ngay sau ngày 1.11.63 chẳng phải do dốt nát, nhầm lẫn vô tình, hay do sơ xuất trong cuộc điều nghiên, mà bởi do một chủ trương đã được xếp đặt có bài bản lớp lang hẳn hoi của hai tướng Dương Văn Minh (quốc trưởng) và Nguyễn Khánh (thủ tướng).

Đây là những sự kiện cụ thể, xin bạn đọc hãy lấy trí thông minh của mình mà phán đoán, chớ đừng vội nghe theo tôi mà buộc tội các tướng này oan uổng. Tội nghiệp! Lúc bấy giờ các tướng lãnh Sài Gòn cho phép dùng một chuyến xe lửa đặc biệt chở hết các tù nhân CS đang bị giam giữ trong các nhà giam ở Huế, như: Thừa Phủ, Toà Khâm, Chín Hầm, Mang Cá v.v... về Sài Gòn. Một số đem giam ở Chí Hoà, một số khác giam ở Tổng Nha Cảnh Sát QG, để lấy lại lời khai. Trong trường hợp này các cán bộ CS đều được phép đảo cung. Dĩ nhiên, lẫn lộn trong số đó gồm cả thảy 22 cán bộ CS nằm vùng cao cấp nhất, Mười Hương cũng được bố trí cho phép đảo cung và kêu oan. Mười Hương vẫn giữ nguyên danh tánh là Trần Ngọc Ban, nhưng thay đổi chút đỉnh về lý lịch, nhận là một giáo viên dạy tư, không hề biết gì về chánh trị, con của bà Lê Thị Nhiễm [một cán bộ cơ sở của CS] có chồng đã chết cũng họ Trần. Trước Hội Đồng An Ninh QG, Mười Hương cực lực phủ nhận tội trạng, cho rằng đã bị Mật Vụ của chế độ Ngô Đình Diệm bắt oan và dùng biện pháp tra tấn cực hình cưỡng bách nhận tội... Chỉ cẩn đảo cung khơi khơi như thế là Mười Hương liền được các tướng ra lệnh trả tự do cho đương sự và không quên dạy đương sự: sau khi về nhà rồi phải nhớ hết lòng ”phục vụ quốc gia“ nghen!

Được các tướng ban ơn trả tự do, Mười Hương về ngụ tại nhà của bà Nhiễm ở quận 3, mỗi tháng ngoan ngoãn đến ty cảnh sát trình diện một lần cho có lệ. Nhưng thực sự, sau khi được phóng thích Mười Hương chỉ đi trình diện có một lần duy nhất. Đến tháng sau, khi cục R đã bố trí hoàn bị đường giây đưa Mười Hương vào mật khu ở Củ Chi, thì Mười Hương không còn phải đi trình diện cảnh sát nữa. Vào tới căn cứ Củ Chi, Mười Hương đã được ngay các đồng chí cán bộ cao cấp ở miền Nam gồm: Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh, Trần Văn Trà, và Trần Văn Danh... túc trực đón chào.

Sau đó ít lâu, Mười Hương đã được chánh trị bộ rút về Hà Nội và đích thân Hồ Chí Minh đã cho phép Mười Hương đi Âu Châu một chuyến để ”bồi dưỡng“ và đoàn tụ với vợ. Đến năm 1968 Mười Hương lại trở vào miền Nam hoạt động với công tác an ninh miền. Đến năm 1970, Mười Hương được chuyển qua thường vụ T, giữ nhiệm vụ trưởng ban an ninh T4 với các công tác đặc biệt là: diệt ác ôn, đánh bại thế chánh trị của miền Nam, tiến hành và phát triển hoạt động điệp báo ngay trong lòng địch...

Sau ngày 30.4.75, Mười Hương được cử làm phó bí thư thành uỷ TP Hồ Chí Minh, đặc trách an ninh. Không lâu sau, trong khoá 4, Mười Hương được trở thành Uỷ viên trung ương đảng, và lần lượt giữ các chức vụ: Phó bí thư thành uỷ TP Hà Nội, tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch, phó ban Thanh tra Nhà Nước, trưởng ban Nội Chính Trung Ương...

NHÂN DANH QUỐC TRƯỞNG DƯƠNG VĂN MINH TRẢ TỰ DO TỐNG THỊ LÝ!
Mới ra tay giết chủ xong, tướng Dương Văn Minh, chủ tịch ”Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”, đã lên ngôi quốc trưởng ngay. Vừa ngồi vào ghế quốc trưởng chưa ấm chỗ, tướng Minh đã lập tức thực hiện luôn một số công tác phá hoại tiềm lực chống Cộng của quân dân miền Nam. Đáng kể nhất là dẹp bỏ quốc sách ”Ấp Chiến Lược”, thả trùm điệp báo CS Mười Hương vào chiến khu…Ngoài ra, tướng Minh còn ra lịnh phóng thích luôn cả các tội nhân hình sự. Chẳng ai biết vì lý do gì! Điển hình là Tống Thị Lý, một ác phụ dâm loạn, đã toa rập với tình nhân giết chồng, là chủ tiệm giày Nam Việt. Vụ này được mô tả đầy đủ trong một chương khác, nói về liên hệ giữa bà Trần Thiện Khiêm với Trần Đình Trường, và Trường với Tống Thị Lý. Tuy nhiên, để độc giả nắm vững vấn đề tướng Minh phóng thích Tống Thị Lý, nơi đây, tôi vẫn xin tóm lược phớt qua như sau:
Bà Tống Thị Lý đã có mối liên hệ tình cảm chặt chẽ và thắm thiết với Trần Đình Trường (con chiên bổn đạo ruột của LM Cao Văn Luận, một nhà tu nổi danh chuyên môn bắt áp phe, suốt hai thời đệ nhất và đệ nhị CH, từ áp phe chính trị, văn hoá, tiền bạc, đến ái tình…) và đã thông dâm với tên Tài, thợ giày, làm công trong tiệm, để tiến hành âm mưu giết chồng là ông chủ tiệm giày Nam Việt, toạ lạc trên đường Lê Thánh Tôn, ngay sau lưng dinh Gia Long.
Sau khi vụ sát nhân đổ bể, dư luận xôn xao bàn tán, báo chí đăng tin rùm beng, khiến Bà Lý và tên Tài bị bắt và lãnh án tù chung thân. Vì thế tác giả lầm tưởng bà Tống thị Lý phải bị giam cho đến ngày cuối cùng của tháng Tư Đen năm 75. Nhưng không dè thời gian đền tội giết chồng của bà Tống Thị Lý hoàn toàn không đáng kể. Vì chẳng bao lâu sau, năm 1963, khi tướng Dương Văn Minh ”làm cách mạng”(!) lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, lên cầm quyền cai trị, đã mau mau ra lệnh thả bà Tống Thị Lý!

Sự kiện này đã minh chứng cụ thể lời cổ nhân nói không hề sai bao giờ: ”Nén bạc đâm toạc tờ giấy”! Cùng một ý nghĩa đó, nhưng người Pháp lại diễn tả rõ ràng hơn bằng câu: ”L’argent au palais peut faire un magistrat”. (Tạm dịch: Nén bạc ở chốn pháp đình có thể tạo nên một ông quan toà)!

Vậy, quốc trưởng Dương Văn Minh ”làm cách mạng”, mới lên cầm quyền, chuyện quốc gia đại sự không lo, một sớm một chiều đã lo thả ngay bà Tống thị Lý, một can nhân hình tội, chẳng dính dáng gì đến chính trị, là bởi nguyên nhân nào? Nén bạc hay tình cảm cá nhân?
Tất cả câu hỏi đó không ai trả lời được, ngoại trừ những kẻ trong cuộc, kể cả cựu tướng Dương Văn Minh. Nhưng chúng tôi cũng như hầu hết độc giả đã đọc tác phẩm này đều tin chắc hai chữ ”cách mạng” chỉ là những danh từ dùng để che đậy mọi thứ tội ác mà thôi!
Khi được lịnh từ dinh Quốc Trưởng, kiêm chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, phóng thích bà Tống Thị Lý, thẩm phán Trần Minh Tiết – đến thời đệ nhị Cộng Hoà làm chủ tịch Tối Cao Pháp Viện – đã phải kêu trời, nhưng vẫn không thể cưỡng lịnh của Quốc Trưởng, nhân danh cách mạng để ”ân xá” cho can nhân!

Sau khi được trả tự do, chẳng bao lâu sau, năm 1965, quân đồng minh đã ồ ạt đổ bộ lên miền Nam VN, bà Tống Thị Lý đã chuyển nghề mưu sinh bằng cách mở quán Snack Bar. Ở miền Nam, giữa thời buổi kiêu binh, kiêu tướng nhiễu nhương, tao loạn khủng khiếp, muốn được làm ăn yên ổn trong ngành này, và muốn tránh khỏi bị các giới lính tráng thường kéo nhau đến ăn nhậu, chơi gái, và phá phách, quịt tiền... bà Lý cần phải có một cây dù thật lớn, thật vững để ”che mưa đở nắng”. Cây dù bự ấy chính là Đại tá An Ninh Q. Đ. Lại Đức Nhi, thử thời là cục trưởng Cục Phản Gián!

Mặc dù lúc đó đại tá Nhi đã có 2 bà vợ, một bà ở Ngã Ba Ông Tạ, một bà ở Hố Nai, cùng với nhiều ”hầu thiếp“ đào tơ mơn mởn tựa bóng tùng quân, nhưng ông vẫn còn thừa sức và thừa lòng ”anh hùng nghĩa hiệp”(!), sẵn sàng dang rộng đôi tay cầm quyền ngành an ninh quân đội ra mà mượn lời cụ Nguyễn Du nói với người đẹp Tống Thị Lý rằng:
”Dù khi gió kép mưa đơn,
Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì” (Kiều)
Thực ra, theo sự thấy biết của tôi, dưới thời các tướng lãnh cầm quyền ở miền Nam, chẳng cứ gì đại tá Lại Đức Nhi, mà các quan chức lớn nhỏ có chút binh quyền trong tay, dù chỉ là trưởng chi cảnh sát quèn, cũng đã lợi dụng chức vụ và thế lực của mình, lấy vợ nhỏ, đóng vai ”đầu nậu“ bao che em út, lấp liếm tội ác hay các vụ vi phạm luật lệ quốc gia, để chia chác lợi nhuận, đồng thời hà hiếp dân lành.

Hiện nay đấng ”anh hùng bảo trợ”, đại tá Lại Đức Nhi đang sống lưu vong tị nạn ở Mỹ. Còn nàng thuyền quyên Tống Thị Lý thì ở Luân Đôn, cách xa xứ cờ Hoa vạn dặm. Nhưng trong nhà người đẹp chung tình vẫn còn chưng hình của đại tá Lại Đức Nhi to bằng cái mẹt, chình ình giữa phòng khách như một tấm ”bùa trừ tà ếm quỉ”. Mỗi khi có khách đến chơi, bà Tống Thị Lý thường chỉ người trong hình, bận quân phục uy nghi với ba bông hoa mai bạc, mà long trọng giới thiệu: ”Đấy, hình ông nhà tôi đấy!”.

Vì thế, từ năm 75 đến nay, ở Luân Đôn, bà Tống Thị Lý không còn là bà chủ tiệm giày Nam Việt nữa. Đồng bào tị nạn đều gọi bà Tống Thị Lý là: ”Bà đại tá”!.
Song song với sự lột xác đó, bà Tống Thị Lý còn mượn màu tôn giáo, núp cửa Thiền môn, tu hành. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời an nhàn, với tuổi thất thập cổ lai hi, bà Lý rất chịu khó theo, cung phụng các ”quí thầy đạo đức chân tu”(sic!) ở Âu châu như: Thích Minh Tâm, Thích Như Điển, Thích Huyền Vi v.v… giàu có tiền muôn bạc triệu, chùa, chiền hai ba cái đồ sộ, nguy nga, tráng lệ, huy hoàng và chung quanh lúc nào cũng dập dìu cả bầy nữ phật tử đủ loại ”lớn bùi bé mềm“chầu hầu, sẵn sàng ”cúng dường cho đạo pháp” cả ngày lẫn đêm không biết mệt!

Như thế, đến bây giờ, có lẽ tới lúc bóng xế chiều tà nơi đất khách, chắc bà Tống Thị Lý đã hồi tâm, muốn tìm con đường giải thoát thân tâm nơi cửa từ bi, nên dốc lòng theo sát gót chân để ”sửa túi nâng khăn” cho các ”quí thầy” dâm, ác, trọc phú tăng, với hy vọng… ”Tu đâu cho thiếp tu cùng, mai sau thành Phật ngồi chung một toà!”…

IX. VÀI NÉT VỀ THÂN THẾ MINH CỒ

Trong số 4 ông đại tướng của miền Nam: Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên và Dương Văn Minh, có lẽ Dương Văn Minh là người có nhiều biệt danh nhất, và cũng là người có nhiều mặt, nhiều cá tính đáng nói nhất. Ngoài những cái tên Minh Cồ, Minh Bự, Minh Sún, Minh Ngu, người Mỹ còn gọi Dương Văn Minh là „Big Minh"!

Ông Dương Văn Minh sanh ngày 19.2.1916, ở Phú Lâm, con ông đốc phủ sứ Dương Văn Mau, làm thơ ký hành chánh trong dinh phó soái Nam Kỳ, sau này gọi là dinh Gia Long. Còn dinh Thống Soái hay còn gọi là Chánh Soái Nam Kỳ thì đặt tại dinh Norordom, sau gọi là dinh Độc Lập. Chức đốc phủ sứ của ông Dương Văn Mau chỉ là chức HÀM, chớ không phải thực thụ.

Thuở nhỏ, gia đình ông Dương Văn Minh cư ngụ gần chợ Phú Lâm. Ta đến chợ Phú Lâm, rời khỏi ngã ba chợ Phú Lâm, khoảng 200 mét, trên con đường từ Chợ Lớn đi Mỹ tho, về phía bên trái, sẽ thấy nhà của ông Dương Văn Minh. Nhưng nay, sau 70 trời, khu này đã cải biến rất nhiều. Có lẽ chỉ ông Dương Văn Minh mới có thể tìm lại được dấu vết xưa thuở thiếu thời. Lớn lên, ông Minh được nhập học trường Chasseloup Laubat (người Việt thường gọi tắt là: Xách Lu). Dưới thời Tây cai trị, ở Sài Gòn có 2 trường công lập nổi tiếng là: Chasseloup Laubat và trường Pétrus Ký. Trường Xách Lu dành riêng cho con tây, tây lai con, con nhà VN dân tây.

Còn bọn con nhà VN thuần tuý, học giỏi chỉ được thi vào Lycée Pétrus Ký. Ngoài ra còn có trường tư của Thiên Chúa giáo là trường Taberd, với một trường nữ sinh, gọi là trường Áo Tím. Thuở tôi còn đi học, các nữ sinh trường Áo Tím (sau gọi là Gia Long) chỉ học đến 4 ème année, hay 3 ème Moderne. Thi xong Brevet hay Diplôme, các cô muốn học lên đệ nhị cấp, seconde và Première, phải sang Pétrus Ký học chung với tụi quỷ sứ chúng tôi.

Theo hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, „Việt Nam Nhân Chứng", thuở còn là học sinh, ông Dương Văn Minh đã học cùng trường với ông Đôn. Trong trường, ông Minh rất giỏi về thể thao, nhứt là chạy bộ và đá banh. Trong đội banh của nhà trường, ông Minh luôn luôn giữ vai thủ môn, và ông giữ rất tài.

Đến đầu thập niên 40, ông Minh đã thi đậu bằng Tú Tài phần nhứt, Bacc. 1 ère partie, nhưng không muốn tiếp tục học nữa, và chỉ muốn ra đi làm, và lấy vợ. Nhưng làm gì với cái bằng Tú Tài què quặt như thế, ngoài việc làm thơ ký còm! Ngặt một nỗi, lúc bấy giờ chánh phủ thuộc địa lại mới ban hành nghị định đình chỉ các cuộc thi tuyển thơ ký chánh phủ, còn gọi là thơ ký hành chánh Nam Kỳ.

Lúc bấy giờ ông Dương Văn Mau muốn đem con vào cùng làm việc trong dinh phó soái Nam kỳ. Nhưng ông không biết phải làm sao, bèn ngỏ ý cậy một bạn đồng sự giúp đỡ. Vị này chính là một sư huynh đồng môn của tôi, tên Trần V.K. Năm nay ông đã già lắm rồi, nhưng còn khang kiện. Ông cư ngụ cách tôi không xa lắm. Ông đã kể hết chuyện thuở mới vào đời, xin vào làm việc trong dinh phó soái, rồi về sau xin đi lính cho Tây của ông Minh cho tôi nghe.
Open in new window

(Ảnh: tác giả Đặng Văn Nhâm và cụ Trần Văn
Kính, bạn đồng sự với ông Dương văn Mau, thân phụ của TT Dương Văn Minh và là người đã dẫn dắt ông Minh vào làm thư ký công nhật dinh Phó Soái Nam Kỳ, rồi khuyên ông Minh nên chọn con đường binh nghiệp...
).

Vị sư huynh của tôi (ông Trần Văn Kính), tuy lúc ấy còn trẻ tuổi, nhưng cũng đã nhập ngạch, và tòng sự tại dinh phó soái Nam Kỳ từ lâu năm, cùng thời với các ông Quách Tòng Đức, Châu Văn Tích, Vương Hồng Sển v.v... Vị sư huynh của tôi đã giúp ông Dương Văn Mau đem con là Dương Văn Minh vô làm thơ ký công nhật, chia việc công văn với ông Châu Văn Tích. Thoạt đầu, ông Minh lo về công văn “DÉPART” (công văn ĐI), ông Châu Văn Tích lo về công văn ĐẾN „ARRIVÉE".

CUỘC ĐỜI BINH NGHIỆP

Làm thơ ký công nhật trong dinh phó soái Nam Kỳ không được bao lâu, ông Minh đã nghe theo lời khuyên của vị sư huynh của tôi, xin đăng lính, đi sĩ quan cho Pháp, khởi sự huấn luyện tại VN. Từ đó ông Minh tiếp tục tiến thân trên con đường binh nghiệp. Năm 1948, ông Minh mang lon thiếu uý, rồi trung uý thuộc binh đoàn 11 è RIC. Khi ông Ngô Đình Diệm về nước chấp hành chức vụ thủ tướng, ông Dương Văn Minh đã mang lon đại tá.

Sau khi Bình Xuyên nổi loạn, đánh phá trong đô thành thất bại, Bảy Viễn kéo tàn quân ra Rừng Sát cố thủ. Để tiễu trừ dứt hậu hoạn, TT Diệm ra lịnh cho bộ Tổng Tham Mưu quân lực VNCH mở chiến dịch Hoàng Diệu, khai diễn từ ngày 21.9.55 đến 24.10.55. Lúc bấy giờ Dương Văn Minh đang làm chỉ huy trưởng phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, nên đã được trao cho nhiệm vụ điều khiển chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch đóng tại Rạch Cát, cùng với sự tham dự của các tiểu đoàn nhảy dù 1, 5, 6, do thiếu tá Nguyễn Chánh Thi, chỉ huy phó liên đoàn Dù.

Khi chiến dịch Hoàng Diệu đã kết thúc, ngày 6.11.55, trong một cuộc lễ trọng thể, đón tiếp các chiến sĩ Rừng Sát, đại tá Dương Văn Minh đã được tổng thống Diệm vinh thăng lên thiếu tướng. Đến tháng 2.1957, ông Dương Văn Minh lại được ông Diệm thăng chức, cho lên trung tướng, cùng một ngày với tướng Trần Văn Đôn.

Sau đó, ông Minh được cử đi Mỹ tu nghiệp trong một thời gian ngắn, mở đầu cho giai đoạn thất sủng. Khi về, 1958, không có một nhiệm sở nào thích hợp cho ông, TT Diệm đã bày ra một văn phòng, gọi là Bộ Tư Lệnh Hành Quân, để cho ông Minh ngồi chơi sơi nước. Đến năm 1960, Bộ Tư Lệnh Hành Quân bị giải tán. Ông Minh được ông Diệm phong cho làm cố vấn quân sự. Nhưng thực chất chỉ là một chức vụ lèo, không có nhiệm sở, chẳng có được cái
bàn giấy với cái ghế ngồi. Từ đây ông Dương Văn Minh bắt đầu lập tâm thù hận gia đình anh em ông Diệm. Trong 2 người, ông Diệm còn chút khoan nhượng với ông Minh. Nhưng ông Nhu đã tỏ ra rất ghét ông Minh.

Nhân cuộc binh biến ngày năm 1960, ông Minh còn dại dột tuyên bố „trung lập", nghĩa là không theo phe đảo chánh của đại tá Nguyễn Chánh Thi, nhưng cũng không ủng hộ ông Diệm. Hành động ấy chứng tỏ trong lòng ông Minh đã chất chứa mối oán thù rất nặng nề đối với anh em ông Diệm và ông Nhu. Ông ta chỉ còn chờ cơ hội để thanh toán 2 kẻ thù bất cộng đái thiên ấy mà thôi.

Mối thâm thù 2 anh em ông Diệm-Nhu chứa chất nặng chĩu trong lòng ông Dương Văn Minh, đã phát lộ rõ ràng qua 2 sự kiện cụ thể, với bằng chứng rành rành sau đây:
- Từ năm 1960, Dương Văn Minh đã ngầm tiếp xúc, và làm việc cho CSBV, qua trung gian của người em ruột, tên Dương Văn Nhựt, đảng danh là Mười Ty, lúc ấy hãy còn mang quân hàm thiếu tá của quân đội CSBV.
- Ngầm ra lịnh cho bộ hạ là thiếu tá Nhung, sát hại 2 anh em ông Diệm và Nhu trong thiết vận xa, ngày 2.11.63.

Bây giờ, 33 năm lịch sử đã trôi qua, nhân dịp đảo chánh ngày 1, tháng 11.1963, tôi ngồi ôn lại ký ức, mở chồng tài liệu cũ, để khắc hoạ lại chân dung của tướng Dương Văn Minh, một nhân vật đã từng 2 lần đóng vai tuồng lãnh đạo miền Nam. Lần nào cũng ngắn ngủi. Nhưng mỗi lần đều đem đến tai biến thảm khốc vô lường cho nhân dân miền Nam.

Theo dõi cuộc đời của ông Dương Văn Minh, từ thuở còn là một học sinh trung học cho đến nay, đã 80 tuổi, và đang sống lưu vong ở Paris, bằng tiền hưu dưỡng cựu trung uý trong quân đội Pháp ở Đông Dương, tôi thấy có thể tạm chia ra làm các thời kỳ sinh hoạt sau đây:
- Thời kỳ học sinh, từ năm 1916 đến 1940.
- Thời kỳ làm thơ ký công nhật trong dinh phó soái Nam Kỳ, từ 1941 đến 1945.
- Thời kỳ gia nhập quân đội Pháp, từ 1946 đến 1950.
- Thời kỳ chuyển qua quân đội quốc gia, từ 1950 đến 1954. Căn cứ vào ngày 11.5.1950, quốc hội Pháp chấp thuận cho VN được thành lập quân đội. Cùng trong ngày này thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập quân đội quốc gia, gồm 60.000 người.
- Thời kỳ phục vụ nhà Ngô và bị thất sủng, từ 1955 đến 1963.
- Thời kỳ làm... „cách mạng", và giữ vai trò quốc trưởng, từ ngày 1.11.63 đến ngày 30.1.1964 bị tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý, cho làm quốc trưởng Bù Nhìn!
- Thời kỳ lưu vong ở Thái Lan, từ tháng 2.1965 đến 1970. Dương Văn Minh ra tranh cử tổng thống lần thứ nhì với Nguyễn Văn Thiệu, được CSBV ủng hộ, và đại sứ Mỹ Bunker đưa cho 3 triệu Mỹ Kim để vận động tranh cử. Minh đã nhận tiền, bỏ vào ngân hàng Tokyo Bank (theo Frank Sneep). Nhưng tới giờ chót Minh không ra tranh cử, vì không hội đủ 100 chữ ký giới thiệu theo luật định.
- Thời kỳ quy tụ „thành phần thứ ba", từ 1971 đến 1975. Nhưng thực chất, chỉ là một ổ tập trung toàn những cán bộ CS nằm vùng, hầu hết đều là người miền Nam, như: Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Hồng Sơn Đông, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Chung, Vũ Hạnh, Huỳnh Văn Tòng, Hồ Ngọc Cứ, Huỳnh Tấn Mẫm v.v..., để thực thi chỉ thị của CSBV trong mục tiêu chiếm trọn miền Nam.
- Thời kỳ làm tổng thống, không do dân bầu, trong 24 giờ, để bàn giao miền Nam VN cho CSBV, từ ngày 28.4 đến 30.4.1975.
- Thời kỳ lưu vong tị nạn ở Pháp, từ 1982 đến...
(Còn tiếp)



Bài khác
05.09.2010 21:30 - ̣người Việt NAM Ở ANH QUỐC THỐNG LÃNH DỊCH VỤ trồng cần sa VÀ BUÔN BÁN CẦN SA
02.09.2010 15:00 - BÀI 6.- GIÁO CHỦ HÙYNH PHÚ SỔ ĐÃ BỊ VMCS GIẾT CHẾT MẤT XÁC, KHÔNG TÒAN THÂY TỪ 1947, HAY CÒN ĐANG…“VẮNG MẶT”?
01.09.2010 09:10 - BÀI 2.- PHẢN ÁNH ”TÂM TƯ T.T. THIỆU” CỦA NG.TIẾN HƯNG: ĐÂY, THẬP ĐẠI ÁC TỘI CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU
15.08.2010 22:00 - BÀI 5.- JESUS CHRIST VÀ HÙYNH PHÚ SỔ ĐÃ LÂM CẢNH “LƯỠNG ĐẦU THỌ ĐỊCH”, NHƯNG Ý NGHĨA 2 CÁI CHẾT HÒAN TÒAN KHÁC NHAU!
11.08.2010 13:40 - ĐẠI HỘI NHÀ VĂN BỊT MỒM TRẤN MẠNH HẢO!

Chỉ Thành viên mới được gửi bài và nhận xét.
Người gửi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bài viết của mình!
Đăng Nhập
Tên thành viên:

Mật mã:

Nhớ Đăng-Nhập



Quên mật khẩu?

ĐĂNG KÝ thành viên!
DVN - Giờ
Ai đang Online
21 người đang xem (17 người đang xem chủ đề: Chuyên đề)

Thành viên: 0
Khách: 21

xem tiếp...
Counter
Hôm nay: 1364136413641364
Hôm qua: 2305230523052305
Total: 1052750105275010527501052750105275010527501052750
Việt Nam TV Online
Tìm kiếm
BBC
RFA Radio
RFI Radio
copyright (c) 2007-2008 Đặng Văn Nhâm All right reserved