[2/2].- HỒ TRƯỜNG AN GIỚI THIỆU TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ: NỮ SĨ HÀN SONG TƯỜNG
• Bài và phỏng vấn của Hồ Trường An
( tiếp theo và hết)
Cũng thế, về thi ca, chị không ngừng khai thác thêm đường lối mới. Ngay trong lúc làm thơ về tình yêu, chị cũng đâu có chịu sản xuất thơ cho chính mình bằng cái khuôn đúc có sẵn. Chị cũng không giới hạn thơ của mình trong cái khung cũ kỹ nhàm mắt quen tai. Những bài thơ tình yêu mà tôi đã đưa vào quyển biên khảo ‘‘Thông điệp hồng’’ (năm 1990), giờ đây Hàn Song Tương cho là hơi quê quê. Nhưng tôi lại bắt gặp ở chúng công việc lột xác rất huy hoàng của chị (về hình thức lẫn nội dung của thơ).
Tôi không nghĩ đó là những bài thơ trữ tình suông trơn đâu. Nó phải sản sinh từ một trường phái nào đó rạng ngời thần trí sáng tạo hơn là từ phong trào lãng mạn của thi ca. Cũng thế, thơ tình yêu vào thời La Belle Époque (Thời Đại Mỹ Lệ/ thập niên 10 của thế kỷ 20) của các nữ sĩ Comtese Anna de Noailles, Renée Vivien, Natalie Clifford Barney, Lucie Delarue Madrus là những bài thơ thoát khỏi cái khung nhàm chán của thơ văn lãng mạn. Họ lại còn trộn thiên nhiên vào nhân sinh quan trong thơ, biến thơ thành những bức phong cảnh đẹp óng chuốt như bức tranh ‘‘Les Coquelicots à Argentueil’’ (1870) của Claude Monet. Đôi khi phong cảnh trong thơ họ lộng lẫy sắc màu hoang dã làm độc giả hậu sinh chúng ta liên tưởng tới hình ảnh trong tranh dã thú của Matisse cũng vào thời đại La Belle Époque (Thời Đại Mỹ Lệ) kinh qua thời kỳ Les Années Folles (Những Năm Điên Cuồng/ thập niên 20 của thế kỷ 20).
Nhưng Hàn Song Tường thì lại khác. Chị góp nhặt những cái sống thực rất đơn giản trong cuộc đời tầm thường nhạt nhẽo rồi dùng cây đũa phép đem chất thơ chất mộng để tưới tẩm thấm nhuần cho chúng, biến đổi cái nhàn nhạt của các cuộc hẹn hò của đôi lứa yêu nhau trở thành cuộc ân tình say đắm, gieo cho độc giả một một thích thú lạ lẫm bất chợt, một không khí mới lạ mà các nhà thơ nữ chuyên về thơ tình yêu của chúng ta từ trước tới nay không biết ứng dụng tài biến hóa ấy. Cuộc tình, khung cảnh yêu đương trong thơ của Hàn Song Tường là của... Hàn Song Tường, chứ không của ai khác được. Bài thơ bất cứ ở trường phái nào của chị cũng là một bài thơ rất... hàn song tường, không phảng phất một áng sương hay một làn khói của thơ ai. Lại nữa, đằng sau ngôn ngữ của bài thơ, đằng sau những hình ảnh trong thơ dường như có một điều gí bí nhiệm mong manh thao thức chập chờn, mà độc giả chúng ta chỉ cảm nhận thấp thoáng mơ hồ nên không thể diễn tả được thành lời. Niềm bí nhiệm ấy biến bài thành một đề tài để chúng ta suy nghĩ miên man, để chúng ta cứ bứt rứt hoài hoài. Nhưng rồi sau rốt, chúng ta lại gặp một niềm thích thú không sao phân tích hay giải nghĩa nổi. Xin cùng đọc vài đoạn thơ tiêu biểu của Hàn Song Tường đã góp mặt trong quyển ‘‘Tuyển tập thơ văn Văn Bút Nam Hoa Kỳ’’:
Như giấc mộng
Thổi qua cơn hồng thủy Cánh cửa hẹp người về chia chác Tháng Chạp gần - gần một giải tay Bình minh tàn Hoàng hôn tím phương xa Người có thử một chuyến đi biệt xứ Người có biết - mặt hồ in bóng nhạn Cánh chim giăng để gió cuốn đi Cuốn cả em đi - cuốn cả lá đi Đường xa tắp - cánh chim lăn trong gió Đường mưa bụi - nghe mưa say mướt Mặt hồ xưa - cùng bóng dáng em Để một lần hợt đến rồi quên (‘‘Tháng chạp’’, các trang 360, 361)
Trong bài thơ ‘‘Lãng du’’, những câu rời rạc như những mảnh puzzle. Ý nghĩa của chúng khá đơn giản và trong sáng. Nhưng những mảnh puzzle ấy khi ráp lại tới giai đoạn hoàn tất tạo thành một bức tranh thê thiết và thấm nhuần không khí uể oải, chán chường. Nó làm nổi bật lên hình ảnh người cô phụ lạc loài trở về khung cảnh u trầm hiu hắt. Nàng đánh mất một thiên đường ở ngay chính mình. Và bóng dáng hạnh phúc trong tầm tay nàng đã vuột mất và đã thoảng xa. Những chi tiết của bối cảnh xung quanh nàng, những ý nghĩ vụn vặt trên dòng đời kết thành một dấu hỏi to tướng về cái hiện hữu của nhân sinh, cái nghĩa ẩn mật của đời sống mà nàng không thể lý giải. Cho nên nàng chỉ biết ngoan ngoãn cúi đâu tuân phục sự đẩy đưa của oan khiên nghiệp chướng (la fatalité). Ý tưởng đó càng bộc lộ ở những câu:
Em về đây Anh nói - chờ em hai mùa mệt ngất Biến cố thời gian lành lạnh thịt da Anh nhắc Con lý ngư bỏ cửa sông ra biển Tu hết một đời chẳng vượt nổi phong ba Em bước vào ngưỡng cửa Nắng hanh vàng trải như chiếu hoa Anh hỏi thăm Đồng tiền sấp ngửa Nơi xứ người em đuợc em thua Em mỉm cười Đồng tiền bạc nghĩa Em thua trắng tay nhưng không tiếc bao giờ. (‘‘Lãng du’’, trang 364) Viết về Hàn Song Tường, qua cuộc bút trình của chị, tôi chợt nhớ một câu thơ nào đó của Nhã Ca đã lạc loài trong ký ức tôi từ nhiều năm qua: ‘‘Nàng đứng dậy và đi tới’’. Vâng, Hàn Song Tường không bao giờ bị mọi bất hạnh trong cuộc đè bẹp. Không có gánh hệ lụy nào có thể làm chị ngã quỵ. Trên con đường văn chương lẫn trên sinh lộ, chị đã đứng dậy từ lâu. Và chị đi tới để đến ở một nơi khác, không phải chỉ vượt qua một dặm mà sống hàng trăm nghìn dặm tương thân. Và sau cùng, chị tự khám phá ở nơi đó một chốn dung thân lý tưởng mà chỉ có một mình chị biết được cái đáng yêu đáng sống của nó, không phải bên kia mà bên này phía mặt trời. Chú thích: (1) Thơ Bùi Giáng. (2) ‘‘Kinh ngọc’’ của Phạm Thiên Thư.
PHỎNG VẤN HÀN SONG TƯỜNG
Hồ Trường An (HTA): Trong văn giới ai cũng thấy rõ rệt việc chuyển hướng của chị trong quyển ‘‘Ở một nơi khác’’. Đây là một nỗ lực tối đa, một khởi sắc lộng lẫy. Và chị nghĩ sao khi các bạn chị đang tìm mọi cách để lên đường, khai phá cho văn chương mới (văn chuơng đương đại và văn chương hậu hiện đại)?
Hàn Song Tường (HST): Cám ơn anh về lời khen. Khi đọc lại những truyện ngắn trong quyển ‘‘Ở một nơi khác’’, tôi cũng không dè mình viết như thế. Có lẽ trong đời sống, chúng ta cũng bắt gặp một vài nhân vật trong tác phẩm ấy chăng? Thật sự tôi vẫn thấy mình viết lách cũng chưa tới đâu. Nhưng tôi sẽ cố gắng hơn nữa. Còn khai phá chữ nghĩa ư? Để thử coi, tới đâu hay tới đó, cho dù hiện đại hay hậu hiện đại trong văn chương, ai mà chẳng nói được? Nhưng trước nhất, theo tôi, đọc lên quyển sách phải hay cái đã.
HTA: Nhưng tại sao trong những truyện ngắn ở tập truyện ‘‘Ở một nơi khác’’, những nhân vật của chị rất cô đơn mà lại dữ dằn?
HST: Họ không có ác, chẳng có dữ dằn, họ chỉ cô đơn và khó chịu một chút. Thì anh cũng thừa hiểu rằng trong cô đơn và trong tuyệt vọng, người ta cố vùng vẫy. Cuộc thua nào cũng bi thảm, chúng ta chẳng để họ có chút hơi thở cuối cùng hay sao? Bộ anh không thấy các nhân vật nữ của tôi bị thiệt thòi, luôn luôn là kẻ thua cuộc hay sao? Sao anh không tội nghiệp họ mà còn chê họ ác ôn, dữ dằn?
HTA: Chị đã xem trong văn chương hay kịch ảnh, có phụ nữ nào phản ứng mạnh khi họ bị dồn tới chân tường không?
HST: Nhiều lắm, tôi nhớ không hết được, nhưng có một phim tôi xem khá lạ là phim ‘‘The cook, the thief, his wife, her lover’’. Phim này được báo chí cho là phim hay nhất trong năm 1990, đại khái người vợ, thường bị người chồng hà hiếp, đánh đập. Về sau, bà ta có một người tình trí thức, người ấy khiến bà ta ăn nói vui vẻ hơn. Nhưng ông chồng giết chết người tình của bà ta. Bà ta đã nhờ người đầu bếp nấu thịt người tình kia và ép chồng ăn thịt người yêu của mình trước khi giết chết ông ta về tội ăn thịt người (luật bên Anh ăn thịt người là bị tử hình). Thật ra, truyện không có gì quá đáng, nhưng tiếng khóc của bà ấy mới bi hận và đau đớn biết bao, dội sâu vào lòng người. Không phải bà ta dữ dằn đâu, con giun xéo mãi cũng quằn ấy mà.
HTA: Chị có thích đọc sách tình tứ, dịu dàng của Quỳnh Dao không?
HST: Có đọc, nhưng không thích, trừ quyển ‘‘Thố ty hoa’’ mà Liêu Quốc Nhĩ dịch là ‘‘Cánh hoa chùm gửi’’.
HTA: Hiện giờ ở hải ngoại có nhiều nhà thơ nữ, nhà văn nữ, chị có nghĩ đó là điều đáng mừng không?
HST: Tôi thấy cũ cả, có ai mới đâu? Mới quá thì tôi chưa đọc, chắc tại tôi không có dịp theo dõi tình trạng văn chương ở hải ngoại chăng? Xin miễn trả lời câu hỏi này.
HTA: Chị thích văn chương táo bạo về sex không?
HST: Tôi vốn thích đọc những gì của các nhà văn khác viết về sex. Còn tôi thì ù lì, chỉ mới viết sơ sơ, lẻ tẻ. Nhưng cũng đáng tiếc cho vài quyển có cốt truyện tôi thấy hay, lại bị tác giả tả sex giống truyện dâm tục. Những cây bút người Mỹ có óc thương mãi mà không có thiện chí làm nghệ thuật thường viết loại truyện đó bày bán đầy dẫy ở các tiệm tạp hóa, cấm trẻ em dưới 18 tuổi mua. Lối viết để chọc lét cái sex đó, sách báo Mỹ đã khai thác từ lâu, có lẽ chúng ta đi sau, nhưng xin anh hãy tự hỏi nhé: đi sau mà vững được chăng?
HTA: Những nhân vật phụ nữ trong các truyện trong quyển ‘‘Ở một nơi khác’’ đa số đều có hành trạng bề ngoài dữ tợn, ác ôn, tham vọng, đam mê để rồi thất vọng. Chị không sợ qua các nhân vật ấy, họ sẽ nghĩ chị qua khía cạnh xấu xa tiêu cực hay sao?
HST: Thưa anh, như tôi đã nói, các nữ nhân vật của tôi đâu có ai xấu xa, họ tuy có phản ứng mạnh khi bị dồn vào tuyệt lộ, nhưng họ chỉ biết yêu; vâng đúng vậy, họ chỉ biết yêu thôi. Anh thử đọc lại mà xem, tính tình họ thì O.K., nhan sắc họ thì chẳng ai bì. Vì rằng khi tạo những nhân vật nữ cho các tác phẩm mình, tôi nghĩ đến đàn bà ở cõi A-tu-la (Asuras), cõi này theo Kinh Phật là cõi trời riêng biệt gồm những người có hồng ân và lạc phúc như người trong cõi Thiên Đường nhưng lại không có đức như người trong cõi Thiên Đường. Nam thần hay thiên nữ quốc độ Asura đều sân si, hung dữ. Nhưng đàn bà trong cõi trời ấy thì đẹp phi thường, còn đàn ông thì xấu xí... Tôi nghĩ rằng chẳng ai đọc truyện tôi mà nghĩ ra tôi. Tôi làm sao bì được với các bà các cô trên cõi trời ấy, dẫu tôi có nằm mơ đi nữa cũng vẫn không bằng họ được. Từ nhan sắc đến tính tình, họ khác tôi. Vì đã giống các phụ nữ Asura, các nhân vật nữ của tôi phải sân hận chứ, hận không được thì thua, hễ bị thua thì có cách nào hơn là bỏ chạy (bỏ của chạy lấy người ấy mà!). HTA: Hồi mới bước vào làng văn trận bút, nếu có nhà phê bình nào nhận xét thơ chị một cách tiêu cực, chị có buồn không?
HST: Nếu người làm thơ văn được một nhà phê bình nghiêm túc, hiểu biết và công bằng, biết thưởng thức thơ văn (một người chưa bao giờ nói sai), người ấy đọc thơ văn ta, mở lời cho ta một câu khen, chê dù chỉ một dòng cũng xin đa tạ lắm thay...! Tuy nhiên, tôi cũng đồng ý với nữ thi sĩ MarinaTsvetaev rằng nhiệm vụ đầu tiên của một nhà phê bình thơ là chính ông ta không được làm một bài thơ dở; các thức giả đòi hỏi tối thiểu là ông ta đừng đăng nó trên báo hay cho in ra sách. Đức tính đầu tiên của nhà phê bình là khả năng có thể thấy được cái hay hoặc cái dở trong một bài thơ.
HTA: Chị nhận thấy điều gì quyến rũ nhất ở người đàn bà để chị chọn làm nhân vật cho các tác phẩm của chị?
HST: Một loại đàn bà có nhan sắc và trí tuệ, biết yêu và có tấm lòng bao dung. Nhưng sao anh hỏi khó quá, đàn bà khó hiểu thấy mồ, nhiều khi tôi cũng chịu thua. Họ có thiên hình vạn trạng, xấu tốt lẫn lộn, tôi đều thấy hay cả.
HTA: Chị sáng tác có khó khăn lắm không? Có bị áp lực vật chất hay tinh thần nào không?
HST: Thưa, có lúc thấy khó, có lúc không. Nhiều khi vì sinh kế nên tôi không có thì giờ cầm bút, hoặc bí đề tài, không bắt gặp cảm hứng bất ngờ, hoặc vì lười biếng. Còn áp lực thì làm gì có. Ra hải ngoại, chúng ta được tự do ở vấn đề phô bày tư tưởng mà.
HTA: Ở Texas và ở những nơi khác, chị thường giao du với những văn nghệ sĩ nào?
HST: Ở Houston, nơi tôi cư ngụ, tôi có nhiều bằng hữu, tôi quí mến bạn bè tôi. Còn ở xa thì có Nguyễn thị Thanh Bình, cả hai hay gọi phone cho nhau, xem bạn mình có khỏe không? Còn anh Hồ Trường An nữa, phần nhiều cả hai dùng e-mail để trao đổi cho nhau tin những sinh hoạt trong văn giới. Tôi có nhiều bạn ở mọi nơi, tôi hân hạnh có những bằng hữu thân thương, có người tôi được gặp mặt, có người không, nhưng luôn hỏi thăm tin tức nhau. Riêng ở Houston thì có cuộc tụ tập bạn bè hoài hoài .
HTA: Trong cuộc sáng tác văn chương, chị thỉnh thoảng viết những truyện ngắn phảng phất hương khói của Mật Tông như truyện ngắn ‘‘Thuần dương’’ đăng trên Gió Văn số 3 và truyện ngắn ‘‘Chiếc bóng’’ đăng trên Văn Học số 212. Chị nghĩ gì về điều này? Tại sao chị lại rẽ vào một lối lạ vậy?
HST: Tất cả chỉ là hư cấu. Tôi có đọc những sách nói nhiều về Mật Tông, luôn cả Thiền Tông nữa, nhưng tôi chỉ biết võ vẽ thôi. Khó lãnh hội cái huyền nghĩa của kinh lắm, anh ơi! Vì tôi không hiểu mấy nên không dám nói dông dài đâu. Có thể anh trách tại sao lúc chúng ta nói chuyện với nhau, tôi mạnh dạn nói về hai tông phái đó mà sao bây giờ tôi lại bảo rằng mình không hiểu được gì. Quả thật, khi nói chuyện, tôi muốn ‘‘hù’’ anh đó, chứ cái biết của tôi chỉ bằng con kiến. Xin anh nghĩ rằng những điều do tôi viết ra chỉ là tưởng tượng để nhân vật mình lạ lùng, có một nội tâm sóng gió, có hành trạng kỳ bí gây bão giông. Viết văn có nhiều khi mình có chút nông nổi là vậy đó.
HTA: Xin chị nói qua một chút về họa sĩ Nguyễn Quỳnh.
HST: Họa sĩ kiêm văn gia Nguyễn Quỳnh là con chú bác với ba tôi. Ngày tôi còn nhỏ, ông đã cho xuất bản quyển ‘‘Bờ biển xanh’’ và quyển ‘‘Đi vào thế giới không mầu’’ cùng nhiều sách dịch từ nguyên bản tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi không nhớ hết được. Ông ta cùng một thế hệ với các họa sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn như Nguyên Khai, Đinh Cường, Nguyễn Trung v.v... Vả lại, tôi là học trò của họa sĩ Nguyễn Quỳnh về hội họa và ngoại ngữ. Ông ấy ngoài tình họ hàng là bậc thầy của tôi đấy.
HTA: Chị nghĩ sao về nghệ thuật hội họa của Nguyễn Quỳnh?
HST: Theo tôi cảm nhận: Những lát sơn trên tranh sơn dầu của Nguyễn Quỳnh âu yếm thiết tha, sự kết hợp màu sắc thật hòa điệu. Trong bức chân dung cô gái đăng ở bìa sau quyển ‘‘Ở một nơi khác’’, tôi đã bắt gặp trong cái dáng vẻ buồn bã của cô tiềm tàng chất thơ chất mộng qua những nhát cọ độc đáo được thể hiện trong tranh. Nhưng anh muốn biết người mẫu trong tranh là ai không? Là chính tôi hồi 10 năm về trước đấy. Nụ cười của tôi trong bức họa ấy hao hao giống nụ cười của cô nàng Mona Lisa trong bức tranh vô tiền khoáng hậu ‘‘La Joconde’’ của nhà danh họa Leonardo da Vinci. Nhưng nụ cười của Mona Lisa thật bất hủ, vừa buồn man mác vừa huyền ảo và kỳ bí như nụ cười của một triết gia. Còn nụ cười của tôi chỉ buồn mà thôi.
HTA: Còn bức tranh của Nguyễn Quỳnh mà chị dùng để minh họa cho truyện ngắn ‘‘Về với đất’’?
HST: Chết chưa! Anh lầm rồi. Đây là bức tranh do tôi vẽ đấy. Có một dạo nào anh cứ khen những màu trời mây, màu mặt đất và màu áo quần cô gái tuy không tươi rói, nhưng sự kết hợp của chúng thật lộng lẫy. Anh bảo rằng anh có cảm tưởng cô thiếu nữ chết êm ái dịu dàng như ngủ say, như chết hạnh phúc vì giấc ngủ thiên thu của mình được kết hợp bỏi trăm ngàn mộng đẹp, giữa thế giới màu sắc thiên nhiên xa cõi trần lụy và gần gũi thiên đường. Cái cảm nhận của anh cũng có vài điểm giống với quan điểm của tôi. Tuy nhiên, tôi không quá nghiêng về siêu thực lắm đâu. Cho nên các tác phẩm hội họa của tôi được người thưởng ngoạn dễ cảm nhận.
HTA: Tiện đây, xin hỏi luôn: ngoài họa sĩ Nguyễn Quỳnh ra, chị thích họa sĩ nào trong Hội Họa Sĩ Trẻ ở Sài Gòn trước 1975? Xin nói đặc tính họa phẩm của họa sĩ đó. Và nếu không có gì trở ngại, xin chị cho biết một vài họa sĩ hay nhiếp ảnh gia ngoại quốc.
HST: Trong các họa sĩ Miền Nam Việt Nam, ngoài Nguyễn Quỳnh ra, tôi thích tranh sơn dầu của Thái Tuấn. Tôi xin nói cảm nghĩ của tôi nhưng qua cái ấn tượng riêng biệt của tôi thôi, chứ không phải qua kiến thức hội họa đâu nhé. Tôi có cảm tưởng đường nét của tranh Thái Tuấn rất chuốc lọc mà không gò gẫm thái quá. Còn màu sắc trong tranh của ông rất chìm rất nguội, ngoài việc gây cho người thưởng ngoạn cảm giác êm dịu mà ông còn gây cho họ một ấn tượng buồn man mác. Cô người mẫu trong các họa phẩm của ông ta có cái nhìn thật xa xăm, thật dịu vợi như nhìn vào chặng đời quá khứ thê lương của cô ta; cái nhìn ấy dễ làm nao nao lòng người. Sẵn đây tôi nói thêm: Tôi cũng thích bức tranh ‘‘Giấc mộng đêm hè’’ (A Midsummer night’s dream) của Marc Chagall. Hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo trắng đứng trong vòng tay ôm của một quái vật đầu dê thân người (có thể là vị sơn thần Pan trong thần thoại Hy Lạp) làm nổi bật vẻ buồn cao quý và đài các của nàng. Quái vật cũng có một nét buồn rất dễ thương. Ngoài ra, tôi rất chuộng màu hoa dã thú rất sặc sỡ và diêm dúa mà họa gia Matisse dùng để trang trí trên nền men các đồ sứ, trên thảm trải sàn nhà, nhưng nếu được in trên lụa mềm để may áo tắm rất thích hợp dưới ánh nắng chói chang của bầu trời nhiệt đới. Ngoài ra, tôi còn thích các cô gái hải đảo trong tranh Gauguin. Họ rất gợi cảm, là hương xa hoa lạ đối với người Tây Phương, nhưng rất gần gũi với người Đông Phương Á Châu. Không biết anh nghĩ sao, chứ tôi thấy họ giống các cô sơn nữ miền Thượng du Bắc Việt hay các cô sơn nữ ở miền Tây Nguyên Trung Việt và các cô gái Sê-tiêng ở Ải Địa Đầu Cực Bắc Phước Long (miền Đông Sài Gòn). Quên nữa, tôi phải nói tới những cô người mẫu có thân hình mập mạp tròn trĩnh lồ lộ vẻ trinh khiết như những nàng tiên trong các họa phẩm Auguste Renoir nữa chứ. Cũng thế, cô người mẫu Kiki de Montparnasse bên Pháp trong các bức ảnh chụp của các nhiếp ảnh gia Hoa Kỳ vào thập niên 20 thì dễ thương khỏi chê. Cô ta cũng mập mạp và nõn nà, một khi được ống kính của Man Ray thu hình rồi thì tôi có cảm tưởng da thịt cô tươi mát, mềm mại gợi đến hình ảnh Dương Quý Phi vừa mới tắm xong.
HTA: Xin chị cho biết đại khái về cuộc hình thành của ba quyển ‘‘Một dặm tương thân’’, ‘‘Phía bên kia mặt trời’’ và ‘‘Ở một nơi khác’’ vì có nhiều bạn bè ở xa hỏi đến?
HST: Lúc viết quyển ‘‘Một dặm tương thân’’ là lúc tôi điếc không sợ súng. Trong quyển ấy có vài truyện ngắn được viết từ trại tị nạn, chưa đăng trên báo bao giờ, tôi đánh bạo cho in chung với các truyện ngắn của nhà văn Đặng Phùng Quân cho sách thêm dầy. Ngoài ra, tôi chẳng có ý gì khác. Thuở ấy tôi còn trẻ, không có nếp suy nghĩ chín chắn về văn chương, dù biết rằng anh Đặng Phùng Quân và tôi mỗi người có lối viết khác nhau, tôi vẫn cho rằng mình viết hãy còn non nớt. Còn hai quyển ‘‘Phía bên kia mặt trời’’ và ‘‘Ở một nơi khác’’ đều có sự giúp đỡ của bằng hữu, chứ tôi vốn lười biếng, nếu không có bạn bè thúc đẩy là tôi cho qua luôn. Hiện tại, tôi có một số thơ có thể in thành một tập, nhưng cũng tại tính lười cố hữu, tôi không xem lại bao giờ, nên giam lỏng ở đó, chờ một ngày đẹp trời tôi sẽ lôi chúng ra khỏi hộc tủ để in thành một tập thơ. Nhân tiện đây, tôi xin cám ơn chị tôi cùng các bạn như Ngô Du Trung, Phạm Gia Khôi, Bébé đã giúp tôi tinh thần và vật chất để in sách báo.
HTA: Xin chị cho biết sự thành lập của tạp chí Gió Văn cùng thành phần ban chủ trương, thành phần ban biên tập hay các cây bút cộng tác. Cũng xin cho biết luôn những nỗi khó khăn của ban chủ trương trong việc duy trì tạp san văn chương khai phá này.
HST: Tạp chí Gió Văn ra đời là sự tình cờ, một cái duyên không ngờ mà có. Không hiểu sao lúc ấy (vào năm 2003) tôi bỗng nghĩ tới chuyện làm báo, bèn gọi điện thoại cho Nguyễn thị Thanh Bình. Cô bạn văn này trước đó tôi chưa hề gặp mặt, chỉ nghe các bạn văn khác bảo rằng cô ta đẹp lắm. Tôi nghĩ rằng cô ấy khó tính khi phân tích một bài viết hoặc không có cái tính xuề xòa, cẩu thả như tôi. Tôi vốn hay bỏ mặc nhiều chuyện vì lười và tự bào chữa bằng câu người Nam hay nói để dùng làm hành trang cho mình, để sống được thoải mái: ‘‘Đâu còn đó’’. Ai ngờ cô ấy cũng muốn tìm tôi trong cuộc điện đàm . Vậy là cô cho rằng cả hai chúng tôi cùng một tần số. Tôi thích câu nói ấy lắm. Cả hai nói chuyện văn chương rất tương đắc. Cô là người đầu tiên được tôi mời làm báo chung với tôi. Cả hai bàn tính mỗi ngày qua các cuộc điện đàm viễn liên cho đến khi cả hai O.K. tất cả mọi vấn đề. Tờ Gió Văn ra đời với ban chủ biên là bốn nhà văn nữ giới gồm có Hàn SongTường, Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn thị Ngọc Nhung và Trân Sa. Nhưng đến số 2 thì Trân Sa bỏ cuộc và chúng tôi thay thế cô Phan Tuyết Từ. Chắc anh cũng rõ cô Phan là người Tàu chính cống, trước 1975 tốt nghiệp văn chương Việt Nam, là người chuyên dịch bài vở tiếng Tàu ra tiếng Việt. Cho đến nay, tờ báo đã cho ra mắt 6 số, mỗi số dầy khoảng trên 310 trang, nhưng số thứ 6 dầy đến 408 trang... Đây là sự nỗ lực của ban chủ biên và các văn thi sĩ cộng tác. Tuy nhiên tờ báo do các cô chủ trương cũng phải nhờ đến quí ông cộng tác thường xuyên hoặc xin bài cho Gió Văn. Riêng anh Ngô Du Trung thì xếp đặt, design cho tờ báo càng càng ngày càng đẹp về hình thức. Các bạn văn khác giữ phần phát hành báo ở nơi họ cư ngụ như Đào Trung Đạo, Lê thị Thấm Vân (Hoa Kỳ), Hồ Đình Nghiêm (Gia-nã-đại), nhạc sĩ Trịnh Hưng (Pháp), Nguyễn văn Thà (Na-uy), Vũ Nam (Đức). Các bạn ấy đều bỏ tấm lòng mình vào Gió Văn. Hàn Song Tường xin đại diện Gió Văn, gởi lời cảm tạ chân thành đến quí bạn ấy. Ngoài ra, tôi cũng xin khoe với anh, Gió Văn còn có những bạn giúp đỡ về tài chánh nữa. Đó là những bạn không thuộc giới cầm bút, hoặc có cầm bút nhưng lại muốn giấu tên. Tôi đứng ra đảm nhiệm vấn đề tài chánh rất vất vả. Ngoài tiền in, tôi còn phải lo tiền gởi báo. Chắc anh cũng thừa hiểu, tiền cước phí gửi ra ngoại quốc rất đắt đỏ. Số tiền bằng hữu tặng cũng chia sẻ bớt cho tiền cước phí. Hiện giờ vấn đề lo lắng cho Gió Văn là bài vở và tiền bạc. Bài làm sao luôn có đủ mà phải hay và lạ, tiền bạc phải có sẵn để đem báo đi in. Những khó khăn luôn mang nặng. Bây giờ số 6 đã được phát hành, tôi mừng lắm, tụ tập bạn bè đàn đúm um xùm. Nhưng sau ngày vui, ai biết số phận một tạp chí văn chương ở hải ngoại ra sao? Đành chờ xem vậy.
HTA: Trong một vài truyện ngắn của chị, có nhân vật xưng ‘‘tôi’’ là đàn ông? Chị có thấy nhà văn nữ nào cho xưng ‘‘tôi’’ trong cái lốt đàn ông không?
HST: Tôi muốn ca tụng đàn bà đấy. Trong văn chương, thỉnh thoảng tôi muốn hóa thân thành đàn ông để chứng tỏ rằng không có văn chương phái nam hay văn chương nữ giới gì cả, mà chỉ có một thứ văn chương chung. Văn chương có thể hay hoặc dở, do đó chúng ta đừng phân biệt phái tính. Theo tôi biết, trước 1975, chị Trùng Dương cũng cho nhân vật xưng ‘‘tôi’’ của mình là nam phái. Ngoài ra, trong quyển ‘‘Wurthering Heights’’ (‘‘Đỉnh Gió Hú’’), nữ sĩ Emily Bronte cũng cho nhân vật xưng ‘‘tôi’’ (đóng vai người được nghe kể tấn bi kịch trong truyện) cũng là đàn ông.
HTA: Xin chị cho biết những quyển sách nào làm chị rung cảm, sách ngoại ngữ lẫn sách viết bằng tiếng Việt.
HST: Tôi là người thích đọc sách, dù bận mấy, mỗi ngày tôi đều phải đọc. Đã từ lâu, tôi đã biết để dành tiền mua sách đọc. Tôi rất thích thơ của Thanh Tâm Tuyền, truyện ngắn của Y Uyên. Thú thật, dù chưa gặp mặt Y Uyên bao giờ, nhưng khi nghe tin ông ấy chết, tôi đã buồn và thương tiếc lắm. Hai ông Thanh Tâm Tuyền và Y Uyên là thần tượng của tôi ngày tôi mới lớn. Sau này, tôi đã bắt gặp sách của các tác giả khác, mạnh mẽ hơn, gay cấn hơn, lạ lùng hơn. Đó là Đặng Phùng Quân, Phạm thị Hoài và Trần Vũ. Tại sao tôi không thể thật lòng nói rằng tôi thích sách của họ dù họ và tôi bắt đầu viết lách trước hay sau họ, nhưng họ cũng đã có một khoảng thời gian viết lách đồng thời với tôi chứ? Tuy nhiên, trong sự nghiệp văn chương của họ, tôi chỉ thích một vài quyển thôi. Cũng vậy, còn nhiều tác giả khác, tác giả nào cũng có vài bài để tôi thích, nhưng niềm đam mê đã không còn nữa. Chẳng có nhà văn nào để tôi âm thầm xót xa như ngày xưa tôi đọc các tâp truyện của Y Uyên, để tôi khóc như đọc quyển truyện dài ‘‘Dì Mơ’’ của Đỗ Thúc Vịnh, để thương xót như đọc truyện của Nam Cao. Thật ra, tôi chỉ thích lối viết của quá nhiều các tác giả, nhưng không thể kể hết ra đây. Chắc anh sẽ khó chịu vì sao tôi thích nhiều như thế. Với tôi, văn chương cũng như điện ảnh, dễ thay đổi theo thời gian, mỗi lúc mỗi khác.
HTA: Chị thích thơ Thanh Tâm Tuyền ở các điểm nào? Còn các tác phẩm của Y Uyên ở điểm nào?
HST: Thơ Thanh Tâm Tuyền theo thể thức tự do, thường có những câu trục trặc, gút mắc như những cái gút ở sợi chỉ, ở sợi dây tơ. Nhưng chính ở những cái gút mắc ấy, tình ý thâm trầm của ông lóe sáng lên. Về nội dung, thơ ông phanh phui tàn nhẫn những đổ vỡ trong đời sống, những hệ lụy của con người, khác hẳn loại thơ tình tứ lãng mạn từ truớc. Còn văn chương Y Uyên phản ảnh được thảm cảnh của chiến tranh ở những vùng hỏa tuyến, ở các vùng xôi đậu rất phức tạp. Ông ta diễn tả các thảm cảnh bằng thái độ ung dung, điềm đạm nhưng vẫn làm bàng hoàng người đọc.
HTA: Như chị đã tâm sự với tôi khi gặp nhau tại Paris là nhờ đọc sách nhiều nên chị có cảm hứng dể viết văn. Có đúng không? Hay là do những động lực khác thúc đẩy chị?
HST: Đúng như vậy. Hồi còn nhỏ, tôi đã thích đọc sách, tôi còn nhớ cuốn ‘‘Don Quichotte’’ của Miguel de Cervantes được dịch ra tiếng Việt. Thuở đó tôi được 14 tuổi, chẳng biết sao mãi tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ tới ông hiệp sĩ ấy? Sau này, ngoài các tác phẩm của các nhà văn Việt Nam ra, tôi được đọc các tác phẩm của khá nhiều nhà văn ngoại quốc khác, nhưng đặc biệt truyện của Yasunari Kawabata luôn làm rộn lòng tôi như ‘Ngàn cánh hạc’’ (‘‘A Thousand Cranes’’), ‘‘Âm thanh miền núi’’ (‘‘The Sound of the Mountain’’) và quyển ‘‘Vẻ đẹp và nỗi buồn’’ (‘‘Beauty and Sadness’’). Những nhân vật nữ của ông được ca tụng như một vẻ đẹp nguyên thủy đông phương, từ cánh tay cho tới bàn chân. Cá tánh mỗi nhân vật rất quyến rũ. Rồi tới cõi chết cũng được mô tả như một nỗi thân quen, vật vờ trong từng truyện do ông dựng ra. Động lực thúc đẩy tôi cầm bút là đấy. Tôi mạnh dạn viết lách để được nói ra đời sống, tâm tư của những người cùng quê hương, chủng tộc với tôi, những lầm than mà chúng ta phải chịu sau một cuộc chiến được kết thúc dở ẹc, vô duyên, không đúng nghĩa nên có biết bao người phải tháo thân bỏ chạy. Có thể bảo đó là cuộc lưu đày ngàn năm sau lịch sử phải rùng mình. Không có một cuộc bỏ chạy nào khủng khiếp như thế! Làm sao tôi không kể ra những cuộc bạo hành nơi Biển Đông? Làm sao tôi không kể ra nỗi bất hạnh của những người mà tôi đã gặp gỡ? Bởi thế tôi mới đưa mọi thảm trạng, mọi chặng đời hệ lụy thương tâm vào cuốn ‘‘Một dặm tương thân’’ và vào cuốn ‘‘ Phía bên kia mặt trời’’. Và theo tôi, đọc sách nhiều cũng có lợi là sách đẩy mình ra những ray rứt băn khoăn để mình bớt e ngại, mình cứ viết đi, nếu có thể...
HTA: Xin chị cho biết trong ‘‘Chiếc bóng’’ có nam nhân vật dùng lửa tam muội đốt cháy xác thân của mình, trong truyện ‘‘Người cho nước’’, ‘‘Ngọc’’ có cô Ngọc dùng ngón tay biến ống máu của mình thành đất, trong truyện ‘‘Thuần dương’’ có cô Thúy Ngư có phép phân thân. Những nhân vật ấy đều kỳ lạ, lại đạt được phép thần thông đặc biệt. Chị gặp những nhân vật ấy ở trong truyện thần thoại hay trong truyền kỳ? Hay đó là những trái chín muồi trong óc tưởng tượng của chị?
HST: Tôi có nên trả lời không đây? Vì sao ư? Bởi vì tôi muốn thế, tôi muốn nhân vật của tôi làm hộ cho tôi những gì tôi ước mơ mà tôi không thể làm được. Họ biết làm và có khả năng làm được những cái siêu nhiên siêu việt ấy thì phải làm thay cho tôi chứ. Tôi muốn cho mỗi nhân vật trong các tác phẩm văn chương của tôi không bị giới hạn bởi bất cứ một vấn đề gì. Tôi ao ước họ được hoàn toàn tự do và được trở thành một kẻ vừa vô hình vừa tạo hình, biên giới giữa hai trạng thái ấy là KHÔNG. Làm văn chương là phải vượt lên mọi ràng buộc, nhảy ra ngoài khuôn khổ, bay lướt qua những kềm kẹp cũ kỹ. Vì vậy tôi thử làm xem sao.
HTA: Trước khi trở thành một tác giả phụ nữ, chị có viết văn hay làm thơ cho trang thiếu nhi, trang tuổi ngọc, tuổi hoa, tuổi thích ô mai không? Chị có thực hiện cho mình một tủ sách không?
HST: Thuở còn đi học, tôi đã sáng tác thơ rồi. Có nhiều bài có vẻ người lớn quá nên tôi cho đăng báo nhà trường với một bút hiệu riêng. Thuở đó, mấy ông học giả Việt Nam tung hê thi tài của cô bé thi sĩ Minou Drouet mới bảy tám tuổi gì đó mà đã làm những bài thơ xuất thần. Lại nữa báo chí Việt Nam vào thuở tôi 5 tuổi (1955), xúm nhau ca tụng tưng bừng cô nữ sinh Françoise Sagan viết quyển ‘‘Buồn ơi, chào mi’’ (‘‘Bonjour tristesse’’) coi như một nhà văn hiện sinh lỗi lạc. Lúc đó, những kẻ yêu văn chương dù đang vào tuổi hoa niên cũng đua nhau tìm đọc quyển sách này, nếu không đọc bằng Pháp ngữ được thì đọc bằng sách dịch. Mãi tới khi tôi 15 tuổi, dư âm quyển này hãy còn vang vọng. Tôi tìm đọc bản dịch trên tạp chí Phổ Thông. Dù lúc bấy giờ thơ tôi hãy còn ngây thơ, tên tuổi hãy còn trong bóng tối, tôi vẫn thầm mơ đến khi tôi trưởng thành, thơ tôi sẽ khá hơn, vững vàng hơn. Và biết đâu mai sau tôi cũng trượt qua viết văn xuôi. Thiên tài bộc phát lúc còn nhỏ, chắc gì lâu dài? Tôi nhớ mang máng trong quyển ‘‘My Several Countries’’ (được Lê Bá Kông dịch là ‘‘Dưới bóng Vạn Lý’’), nữ sĩ Pearl S. Buck lại cho rằng nhà văn thường bắt đầu cầm bút vào tuổi 30 trở lên thì văn chương đương sự mới vững chãi. Tôi vịn vào câu nói ấy để hy vọng. Rồi khi ra hải ngoại, tôi vẫn sưu tầm sách báo văn chương trước khi cầm bút trở lại. Tôi thích đọc sách của khá nhiều tác giả, tuy nhiên có loại truyện tôi thích nhất, có loại truyện tôi thích nhì, có loại truyện tôi thích ba. Theo tôi, mỗi tác giả đều tặng cho cuộc đời ít nhiều truyện đầy thú vị hoặc đầy đau thương. Mỗi tác giả mà tôi thích đều có một vài tác phẩm khiến tôi thao thức. Tôi không thể kể hết ra được. Có quá nhiều truyện mà tôi được các văn hữu tặng hoặc nhiều quyển mà tôi đi mua về xếp đầy trên những ngăn kệ. Mỗi lần ra vào, nhìn từng ngăn kệ mỗi ngày một nhiều, tôi cảm thấy lòng mình tha thiết với văn chương chữ nghĩa biết bao!
HTA: Chị có nghĩ rằng văn chương mình bị ảnh hưởng văn chương của ai không?
HST: Thì hồi đó, khi tôi cho trình làng quyển ‘‘Một dặm tương thân’’, anh cho rằng văn chương tôi ảnh hưởng văn chương của nữ sĩ Carson McCullers chứ ai. Thật ra, tôi chỉ nghe tên của bà ta, chứ chưa đọc quyển tập truyện ‘‘ Ballad of the sad Cafe’’ (‘‘ Bài du ca của quán cà-phê buồn’’) của bà ta, nếu có sự giống nhau cũng chỉ là sự tình cờ. Nhưng ở quyển ‘‘Ở một nơi khác’’, tôi ước mong sao văn chương của tôi không có một điểm nào giống văn chương của bà. Người ta bảo rằng trong văn chương, bà là người đàn bà sầu mộng, tâm tư luôn luôn ràng buộc với dĩ vãng. Còn riêng tôi, tôi tự biết về sau này mình hung hăng như thiên nữ Asura (chứ không phải tiên nữ ở Thiên Đường đâu nhé!), viết văn như chém vào cõi thưởng ngoạn người đọc bằng những nhát dao tới tấp cốt sao bóc trần được mọi lớp ngụy trang đẹp đẽ của cuộc đời. Thanh Tâm Tuyền và Phạm thị Hoài là hai nhà văn cũng thích lật mặt nạ đã từng che giấu cái nham nhở của thế nhân, cho nên tôi hằng theo dõi hành trạng sáng tác của họ. Cả hai muốn moi cái bản năng ác quỷ đã từng ẩn trú trong tiềm thức của nhân vật ra để trình bày cho độc giả xem. Đọc truyện dài “Cát lầy’’ của Thanh Tâm Tuyền mà tôi lạnh cả người. Ở văn chương của ông, tôi bắt gặp được sự lột trần tàn nhẫn cái nội tâm sâu kín của con người cho nên ông gây được sự thích thú cho độc giả.
HTA: Trong tương lai gần gũi cũng như trong tuơng lai khá xa xôi, chị có dự tính gì không? Còn việc điều khiển nhà xuất bản Gió Văn thì sao? HST: Tôi chẳng có dự định gì về tạp chí Gió Văn, luôn cả nhà xuất bản Gió Văn. Tới đâu hay đó.
Hồ Trường An: Xin cám ơn nữ sĩ Hàn Song Tường. *
|