[1/2].-NỀN ĐỘC LẬP MỚI MẺ CỦA KOSOVO KHƠI ĐỘNG LẠI MỐI TỬ THÙ CỦA HAI SẮC DÂN: SERBS VÀ AN-BA- NHA (ALBANIA), TẠO GAY CẤN NẶNG NỀ GIỮA MỸ VÀ KHỐI NATO TÂY ÂU VỚI NGA SÔ, SERBS, CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU VÀ TRUNG CỘNG!
 * ĐẶNG VĂN NHÂM
DẪN NHẬP: Tôi nghĩ có thể không mấy người VIỆT NAM tị nạn hải ngoại , kể cả đám thợ cắt dán làm báo chợ ở Bolsa, am tường cặn kẽ vấn đề Kosovo. Mặc dù tai họ vẫn thường nghe tên địa danh này.
Vì thế, nay nhân dịp Kosovo mới tuyên cáo trước thế giới chủ quyền độc lập, tách rời ra khỏi liên bang Nam Tư Lạp Phu (Yougoslavie), kể từ ngày Chúa Nhựt 17. 02. 2008, tôi phải giới thiệu với qúi vị độc giả vắn tắt đôi điều căn bản về lịch sử và vị trí địa dư của tiểu quốc này. Khi ta gọi Kosovo là gọi tên tắt. Bởi trên thực tế địa dư nó còn kết hợp với vùng đồng bằng Metohija, nên có tên chính thức gọi là : Kosovo-Metohija (viết tắt: Kosmet). Nó một lãnh thổ rộng khoảng 10.887 CS vuông. Dân số khoảng 1.584. 000 người. Trong đó đại đa số là người Albanie, gồm khoảng 1.227. 000 người. Thủ phủ là thành phố Pristina. Đó là một vùng đất tự trị kém phát triển nhất trong liên bang Nam Tư, song lại thuộc nước Serbie (Serbes) thời còn Tito. Trước kia, dân Albanie đã từng bị đế quốc Thổ (Turkie) cai trị hàng mấy trăm năm với chính sách kềm hãm phát triển, nhưng dân số vẫn gia tăng rất nhanh, ước tính đến 40 % . Nguồn lợi tức phần nhiều đều do chăn nuôi cừu, bò và gia súc khác. Lòng đất giàu khoáng chất như : chì, thiếc và kim loại không chứa sắt. Công nghiệp hoá chất phát triển ở Trepea và Kosovska-Mitrovika gồm: a- xít sulfuric, thiếc, cadimi… Thổ công nghiệp địa phương (thảm, đồ gốm, đồ bện sợi ) rất phồn thịnh…
Cách nay trên 10 năm, cuộc chiến ở Kosovo đã diễn ra cực kỳ tàn bạo. Tổng Thống Serbs, Slobodan Milosevic, người kế vị Tito, nhất quyết tiếp tục tiến hành mục tiêu loại trừ 90% dân An Ba Nha ( Albanie) ra khỏi lãnh thổ Kosovo. Hàng trăm ngàn thường dân An Ba Nha đã phải trốn chạy qua các vùng lân cận để tránh sự tàn sát dã man của quân Serbs. Ngược lại, để bảo vệ dân An Ba Nha, khối NATO và Mỹ đã tích cự tham chiến, tấn công quân Serbs trong lãnh thổ Kosovo , đồng thời cũng không chịu đơn phương chấm dứt những cuộc oanh tạc trên lãnh thổ Serbs và những nơi đồn trú các lực lượng quân sự Serbs ở Kosovo.
Cùng một nguồn gốc chủng tộc Slave, cùng một tôn giáo Orthodox, cộng thêm tình đồng chí quốc tế Cộng Sản, Nga Sô và một vài nhân vật chính trị của một số quốc gia vùng Ba Nhĩ Cán như : Hung, Tiệp…, lúc bấy giờ đã tỏ thái độ ủng hộ chính sách tru diệt tận gốc dân An Ba Nha dị chủng và dị giáo của tổng thống Serbs, Slobodan Milosevic ở Kosovo.
Nhờ sự can thiệp và bảo vệ của Mỹ và các lực lượng quân sự đồng minh khối Nato, Kosovo đã trở lại yên ổn. Dân An Ba Nha đã không còn bị quân Serbes tiếp tục săn đuổi để tru diệt. Tuy bây giờ Kosovo đã tuyên bố độc lập, tách ra khỏi quyền khống chế của SERBES, nhưng viễn ảnh tương lai của tiểu quốc này vẫn còm đượm màu u ám, nếu không nói là rất đen tối. Liên tiếp mấy ngày nay phe chống đối Kosovo độc lập đã công khai lên tiếng phản kháng mạnh mẽ. Gồm có: Nga Sô, Serbes, một số nước Đông Âu, Trung Âu, kể cả Trung Cộng. Hầu hết những nước ấy đều đang có vấn đề với các tiểu quốc chư hầu trong nội bộ. Họ lo ngại, nếu để cho Kosovo độc lập và được Liên Hiệp Quốc thừa nhận, bởi sự yểm trợ tích cực của Mỹ, các nước đồng minh Tây phương, thì tình trạng an ninh đối với các tiểu quốc sẽ trở nên khó khăn vô cùng. Do đó hiện nay không một quan sát viên nào có thể đưa ra lời tiên đoán gì về tương lai nền độc Lập của Kosovo. Nhất là trong 2 ngày vừa qua- 20- 21. 2. 2008, dân chúng Serbes đã tập họp biểu tình đông đảo tại thủ đô Belgrade, và tấn công, đốt phá dữ dội các toà đại sứ của những nước đã lên tiếng ủng hộ nền độc lập của Kosovo .Trong đó có :Mỹ, Anh, Pháp, Đan Mạch, Ý Đại Lợi v.v…
Bởi thế, bài này, tôi nhắm mục đích giúp đồng bào VIỆT NAM tị nạn hải ngoại, nhất là cộng đồng VN tại Âu Châu, và Mỹ Quốc, có thêm những dữ kiện cần thiết để hiểu rõ căn nguyên những cuộc tàn sát thảm khốc giữa các sắc dân vùng Ba Nhĩ Cán, đặc biệt là quá trình lịch sử cận đại của giống dân An Ba Nha… ĐVN
QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ ĐẪM MÁU!
Cuối năm 1989, trong khi bức tường Bá Linh chia đôi Đông và Tây Đức đã bị dân chúng kéo sập, đánh dấu sự cáo chung của chế độ CS ở Đông Aâu, và sự phá sản của chủ thuyết CS ngay tại thánh Địa Nga Sô, quê hương của chính Lenin và Stalin. Nhưng, chính phủ CS An Ba Nha, vẫn còn lội nước ngược, cố gắng duy trì chủ thuyết Stalinisme lỗi thời. Đến mùa xuân năm 1990, chính phủ CS An Ba Nha cảm thấy bị lạc lõng quá, đã phải lên tiếng hứa trước quốc dân sẽ thực hiện một số cải cách cho hợp với trào lưu mới. Đến mùa Hè năm đó, người ta mới thấy xuất hiện một vài dấu hiệu dân chủ đối lập trong thủ đô Tirana. Dân An Ba Nha bắt đầu leo rào, vượt tường tràn vào các tòa đại sứ Tây Phương để xin tị nạn và dòi quyền di cư, chẳng khác nào hành động của dân Đông Đức khoảng một năm trước đó.
Ít lâu sau, khi luồng gió dân chủ ở Đông Aâu đã thổi bung chế độ CS An Ba Nha rồi, thế giới bên ngoài mới có dịp tìm hiểu thêm về dân An Ba Nha, hầu hết đều theo Hội giáo, với một cấu trúc xã hội già nua, thô sơ kiểu bộ lạc, đã làm cách nào để có thể bảo tồn được truyền thống dân tộc sau hơn năm mươi năm bị nhồi sọ khắc nghiệt bởi các chủ thuyết cộng sản giáo điều Marxism, Leninisme, Stalinisme, lẫn cả tư tưởng Mao Trạch Đông nữa!
Quá trình độc lập của dân An Ba Nha vốn là một chuỗi dài lịch sử cương cường trải từ hàng ngàn năm qua. Chế độ CS ở An Ba Nha do Enver Hoxha thiết lập từ năm 1944, và tồn tại trước mọi ảnh hưởng thử thách của các nước ngoài như: Ý Đại Lợi, Hoa Kỳ, Nam Tư Lạp Phu, Nga Sô và cuối cùng là Trung Cộng. Từ năm 1970, CS An Ba Nha đã thực hiện chính sách ” tự cô lập”, không chấp nhận bất cứ một hình thức văn minh tiến bộ ngoại lai nào. Chẳng khác gì nước Miến Điện, ở Á Châu, trước đó cũng đã đóng khung quần chúng cả nước trong cảnh nghèo khó, dưới chế độ cai trị bằng bạo lực độc tài sắt máu của đảng CS Miến.
Trên bình diện địa dư, nước An Ba Nha là một ngã tư của âu Châu, nhưng dân chúng An Ba Nha lại tự giam mình giữa một vùng núi non trùng điệp, khước từ mọi sự ve vãn liên hệ ngoại giao của các quốc gia khác. Tính bài ngoại vốn là bản chất đặc biệt của dân An Ba Nha, sau này lại còn bị chế độ CS trui luyện thêm cho đến mức cực đoan hơn nữa.
Chính nhờ đặc tính dân tộc ấy mà An Ba Nha đã bảo tồn được truyền thống, tập quán. Sau khi chế độ CS cáo chung các chế độ kế tiếp vẫn chỉ là những chế độ xã hội cực đoan. Dân An Ba Nha vốn là hậu duệ từ thời tiền sử của chủng tộc Ba Nhĩ Cán, gồm các sắc dân Illyrian và Thracian, cùng sống chung với dân Hy Lạp, dọc theo miền bờ biển của bán đảo, trước thời Agamemnon dùng thuyền vượt đại dương đến Troy. Về sau An Ba Nha đã bị đế quốc La Mã chinh phục, vì muốn chiếm cứ hải cảng Dyrrhachium ( tên mới: Durres, tiếng Ý: Durazzo) để dễ dàng kiểm soát cửa ngõ ra vào vùng biển Adriatic( không có hải cảng nào của Ý phía bên kia vịnh Otranto ). Về đường bộ, lại chỉ có một con đường chính chạy dài từ Dyrrhachium về hướng đông tới Byzantium.
Giống dân Illyrian vốn mang trong huyết quản giòng máu chiến sĩ. Các vị hoàng đế như : Aurelian, Probus, Diocletian, và Constantine, đều thuộc giống Illyrian. Chủng tộc này không giống như người Gaul, người Spaniard , hay tất cả các sắc tộc thuộc Ý Đại Lợi. Họ kiên cường giữ nguyên đặc tính ngôn ngữ. Trong thời kỳ này, giống dân Slav đã dùng sức mạnh võ lực khống chế được tất cả các sắc dân khác trong vùng Ba Nhĩ Cán, ngoại trừ Hy Lạp. Ngoài ra, dân Slav còn chủ trương thôn tính luôn An Ba Nha, nhưng đã gặp sức kháng cự mãnh liệt. Cuối cùng, khoảng thế kỷ 15, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ xua quân xâm lăng An Ba Nha. Nhưng một anh hùng dân tộc An Ba Nha, tên George Kastriota, còn gọi là Skanderbeg, đã nổi lên chống lại kẻ thù bạo tàn là những hoàng đế Thổ Murad và Mohammed.
Mười năm sau, khi Skanderbeg qua đời, vào năm 1468, quân Thổ mới chinh phục được An Ba Nha. Dưới ách cai trị của Thổ suốt bốn trăm năm, đại đa số dân An Ba Nha đều cải đạo theo Hồi Giáo, và nhiều người An Ba Nha đã gia nhập vào quân đội của các hoàng đế Thổ, chẳng khác nào trước kia lớp tiền nhân của họ đã gia nhập vào các đạo quân La Mã. Nhiều người An Ba Nha đã từng đạt đến địa vị tể tướng trong các triều đình Thổ Nhĩ Kỳ, như Mehemet Ali, vào thế kỷ 19, và Kemal Ataturk , cha đẻ ra nước Thổ tân tiến ngày nay vốn mang trong người phân nửa huyết thống An Ba Nha.
Từ thế kỷ 19, dân An Ba Nha đã cùng với các sắc dân vùng Ba Nhĩ Cán nổi lên chống lại đế quốc Thổ. Mặc dù lúc đó đế quốc Thổ ( Ottoman) đã bị siêu vẹo, suy yếu, nhưng dân An Ba Nha vẫn phải sống trong vòng nô lệ mãi cho đến thế kỷ thứ 20, vì thái độ bất định của các cường quốc trong vùng. Các nước Ý Đại Lợi, Hy Lạp, Serbs, và đế quốc Aùo ( Austria) đều tỏ ra rất thèm thuồng An Ba Nha, nhất là muốn chiếm lấy hai hải cảng Durres và Vlore ( tiếng Ý: Valona). Cuối cùng , đến năm 1912, nhân một cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập, dân An Ba Nha đã đuổi được quân xâm lăng Thổ ra khỏi đất nước của họ. Lợi dụng An Ba Nha đang trong tình trạng lúng túng, bất ổn định, của một nước vừa thâu hồi được chủ quyền độc lập sau một thời gian dài đến 400 năm bị đô hộ, một một hoàng tử Phổ tên William đã dùng cường lực để tự áp đặt ngôi vị chúa tể lên đầu lên cổ dân An Ba Nha. Nhưng ông ta vừa lên ngôi vào tháng Ba năm 1914, liền bị dân An Ba Nha đánh đuổi ra khỏi nước, vào tháng Mười Một cùng năm. Từ đó An Ba Nha đã thu hồi được độc lập thực sự , nhưng lại bị rơi vào tình trạng khủng hoảng cai trị. Lúc bấy giờ các cường lực trong vùng mới đặt ra vấn đề biên giới. Các cường quốc thế lực quyết định chính phủ Serbs không được thâm nhập vào vùng Adriatic, nhưng để bù lại, họ cho phép Serbs được chiếm hữu vùng Kosovo, một tỉnh bang mà đại đa số là dân gốc An Ba Nha. Nước Hy Lạp bị cấm không được đem quân chiếm cứ miền Nam An Ba Nha, mặc dù trong vùng này dân Hy Lạp cư ngụ đông đảo và người Hy Lạp còn gọi là ” miền Bắc Epirus ”, tức vùng đất miền Bắc của Hy Lạp. Ngoài ra vấn đề biên giới nhập nhằng giữa hai nước An Ba Nha và Macedonia cũng đã trở thành nguyên cớ cho nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra giữa các nước Hy Lạp, Serbs và Bảo Gia Lợi( Bulgaria).
Cho đến mãi ngày nay, vấn đề tranh chấp biên giới phức tạp giữa các nước trong vùng Ba Nhĩ Cán vẫn còn là những đề tài thảo luận dai dẳng không thể nào giải quyết dứt khoát được.
Trong suốt thời kỳ đệ nhất thế chiến, nước An Ba Nha không hề có được một chính phủ nào đủ mạnh và nhất là không bao giờ hoạt động hữu hiệu. Quân Serbs đã bị quân Aùo và quân Bảo Gia Lợi đánh bại, phải rút về Corfu, xuyên qua lãnh thổ An Ba Nha. Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất, một thỏa ước bí mật đã được các nước: Hy Lạp, Ý Đại Lợi, và Serbs ngầm ký kết với nhau , để chia chác lãnh thổ An Ba Nha. Khi chiến tranh chấm dứt, nước An Ba Nha liền bị các nước Hy Lạp, Ý, Serbs, và Pháp xúm vào xâu xé ra từng mảnh vụn. Sau đó nhờ các cuộc thương thuyết, vận động ngoại giao của quốc tế, quân các nước Hy Lạp, Serbs, và Pháp mới chịu rút ra khỏi lãnh thổ An Ba Nha.
Nhưng riêng quân Ý Đại Lợi vẫn cố lỳ tiếp tục chiếm đóng trên đất này.Một lần nữa dân An Ba Nha lại phải nổi lên đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi nước vào năm 1920. Tuy nhiên, Ý Đại Lợi vẫn còn hăm he sẽ trở lại chiếm An Ba Nha lần nữa!
Trong dòng lịch sử lâu dài hàng ngàn năm, đây là lần đầu tiên dân An Ba Nha mới thành lập được một quốc gia độc lập có chủ quyền thực sự . Ngay trong năm 1920, một quốc dân đại hội An Ba Nha được triệu tập. Trong số các lãnh tụ chính trị có Fan Noli, một người đã từng tốt nghiệp đại học Harvard ở Mỹ, và đã tự phong làm giám mục chính thống giáo An Ba Nha ở Boston. Nay Fan Noli trở về An Ba Nha và trở thành giám mục địa phận Durres, một vùng cảng quan trọng của An Ba Nha. Một nhân vật chính trị khác, tên Ahmet Bay Zogu ở Mati, theo Hồi giáo, là một trong số lãnh tụ quan trọng của dân An Ba Nha. Hai nhân vật chính trị này đã tranh chấp quyền lực với nhau dai dẳng suốt từ năm 1920 cho đến 1928. Lúc đó Ahmet Bay mới hạ được đối thủ , để lên ngôi chúa tể, cai trị dân An Ba Nha và tự xưng là:quốc vương Zog. Chữ Zog có nghĩa là: loài chim. Vì thế vương hiệu của nhà vua gọi là:” Hoàng đế của giống con Đại Bàng”, và chọn hình chim Đại Bàng Đen đang vươn cánh làm biểu hiệu của vương quyền và của chủng tộc An Ba Nha. Từ đó về sau, và cho mãi đến bây giờ dân An Ba Nha vẫn dùng quốc kỳ màu đỏ thẫm in hình chim Đại Bàng đen vươn cánh.
Bởi hoàn cảnh nghiệt ngã của lịch sử , nên các sinh hoạt chính trị ở An Ba Nha đều mang nặng tính bạo động và bất thường, phát sinh do những mối thù truyền kiếp đẫm máu cộng với lòng ấp ủ sâu xa các truyền thống dân tộc. Một trườn hợp bạo động điển hình đáng kể, trong cuộc viếng thăm Vienna, nhân một buổi đi xem trình diễn ca vũ nhạc Opéra, thình lình hoàng đế Zog của An Ba Nha đã bị quân khủng bố phục kích ám sát ngay trước thềm đại sảnh của ca kịch viện. Trường hợp này nhà vua đã cùng đoàn cận vệ tháp tùng đã dùng võ khí chống trả kịch liệt, và nhờ thế mà được thoát nạn. Đó vốn là một thói quen trong vùng Ba Nhĩ Cán. Những cuộc ám sát như thế xảy ra rất thường trong các nước Nam Tư Lạp Phu, Lỗ ma Ní, và Bảo Gia Lợi ( Bulgaria).
Trong khi quốc gia An Ba Nha đang tiến bước một cách chậm chạp vào thế kỷ 20, thì chính phủ An Ba Nha lại bị bịnh tham nhũng, hối lộ tàn phá đến lung lay tận gốc rễ. Đa số dân chúng An Ba Nha đều lâm vào cảnh dốt nát, thất học. Khoảng năm 1927, lợi nhuận hằng năm, tính trên mỗi đầu người chỉ có 40.07 Mỹ Kim. Nước An Ba Nha trở thành một nước nghèo nhất trong vùng Ba Nhĩ Cán. Cả nước chỉ có vài con lộ thông thương, không có một khúc đường xe lửa nào, không có một trường đại học, và chẳng ai tìm thấy nơi đây một dấu hiệu gì của nền văn minh tiến bộ.
Trong khi đó, Ý Đại Lợi vẫn tiếp tục dòm ngó, thèm khát con mồi ngon An Ba Nha, nên lại lân la giao thiệp để mon men đến gần. Thống chế Mussolini của Ý gạ gẫm gửi các sĩ quan sang An Ba Nha để huấn luyện quân đội, đồng thời còn gửi cả cố vấn sang để giúp đỡ chính phủ An Ba Nha. Lúc bấy giờ hoàng đế Zog của An Ba Nha đã chơi trò đi giây. Một mặt vẫn tiếp nhận cố vấn, huấn luyện viên và quà cáp biếu xén của Ý, nhưng mặt khác vẫn ngấm ngầm chống đối người Ý. Đây là một hành động đi giây nguy hiểm , rất khó giữa được thăng bằng. Trong khi đó hai nước Hy Lạp và Nam Tư lại đang ngấm ngầm âm mưu đánh chiếm An Ba Nha, để chia nhau mảnh đất này. Trong tình thế đó, hoàng đế Zog đã cảm thấy hiểm họa đi với Mussolini hiện ra trước mắt, chẳng khác nào cô bé quàng khăn đỏ chơi với con chó sói.
Cuối cùng , một khi vở kịch đã khai diễn thế nào cũng đến lúc phải hạ màn. Vào tháng Tư năm 1939, trong khi nhà độc tài Đức Quốc Xã Hitler đang xua quân đánh chiếm các nước Aâu Châu, Mussolini liền lợi dụng cơ hội đó đem quân đánh chiếm An Ba Nha. Quốc vương Zog nhanh chân trốn thoát khỏi nước. Một nhân vật chính trị tên Victor Emmanuel III (đệ Tam) lên ngôi quốc vương An Ba Nha tuyên bố sát nhập An Ba Nha vào lãnh thổ Ý Đại Lợi, đồng thời mở đường chuẩn bị cho Mussolini xua quân Phát Xít đánh chiếm Hy Lạp.
Cuộc phiêu lưu quân sự táo bạo này đã diễn ra vào tháng Mười năm 1940, nhưng kết quả là một thảm bại ê chề. Quân Hy Lạp đã đẩy lui quân Ý ra khỏi lãnh thổ, còn tiến chiếm luôn vùng đất miền Nam của An Ban Nha. Đến mùa xuân , quân Hy Lạp chuẩn bị đánh chiếm nốt phần đất miền bắc còn lại của An Ba Nha.
Lúc bấy giờ Hitler đang chuẩn bị xua quân lên miền Bắc đánh chiếm Nga Sô, nên không khỏi đùng đùng nổi giận khi nghe tin đồng minh Ý bị thảm bại. Hitler rất bực tức Mussolini vì đã âm thầm hành động riêng lẻ, không thông báo trước cho ông ta biết ý đồ đánh chiếm Hy Lạp, để đến nỗi bị thất bại nhục nhã. Nhưng dù sao Hitler cũng phải cứu vãn thể diện cho Mussolini, và biểu lộ mối liên kết chặt chẽ giữa quốc xã Đức và phát xít Ý. Trước sức mạnh vũ bão của quân Đức quốc xã, chính phủ Nam Tư đành chịu khuất phục, chấp nhận ký thỏa hiệp đồng minh với Đức , cho phép Đức được chuyển quân xuyên qua lãnh thổ Nam Tư để tiến đánh Hy Lạp. Dù vậy, Nam Tư vẫn không thoát khỏi bàn tay của Đức quốc xã. Ngày 26.3.1941, một cuộc đảo chánh đã diễn ra chớp nhoáng ở thủ đô Belgrade của Nam Tư. Thế là quân Đức chiếm Nam Tư ngon lành, dễ như trở bàn tay, chia cho đồng minh Ý một số vùng chiếm đóng, rồi tiếp tục xua quân đánh chiếm luôn Hy Lạp. Nhờ cơ hội này quân Ý Đại Lợi đã có dịp tái thiết lập nền cai trị ở An Ba Nha, đồng thời sát nhập luôn Kosovo vào An Ba Nha, một tỉnh nằm trong lãnh thổ Nam Tư, nhưng đại đa số đến 90% cư dân đều là người An Ba Nha.
Trong thời gian này, Tito đã xuất hiện như một ngôi sao sáng trên nền trời đấu tranh dành độc lập của dân Nam Tư. Tito đã phái một số cán bộ tới An Ba Nha ngấm ngầm hoạt động ,để tổ chức cơ cấu đảng Cộng Sản An Ba Nha. Đến tháng Mười Một năm 1941, các đơn vị CS lẻ tẻ trong nước đã kết hợp lại trong một hội nghị thống nhất chính thức thành lập đảng CS An Ba Nha, là một trong số những đảng CS vững mạnh nhất trên thế giới. Tổng bí thư đầu tiên của đảng CS An Ba Nha là Enver Hoxha, một nhân vật đã từng du học ở Pháp và làm việc ở vương quốc Bỉ .
Đảng CS An Ba Nha liền cấp tốc kết nạp đảng viên, mở rộng tầm hoạt động, tạo ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng , và chuẩn bị nổi lên đánh đuổi quân xâm lăng Ý Đại Lợi. Những cuộc đình công , nổi loạn bạo động, những cuộc tấn kích nhắm vào quân Ý xảy ra gần như hằng ngày. Đảng CS An Ba Nha còn noi theo sách lược chung của CS quốc tế và CS Nam Tư là kêu gọi các đoàn thể quần chúng không CS hãy đoàn kết với đảng CS dưới danh nghĩa ” PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG QUỐC GIA” ( National Liberation Movement , viết tắt: LNC).
Nhưng đại đa số dân chúng An Ba Nha không chịu tham gia vô cái tổ chức này của CS. Những người An Ba Nha chống CS liền thành lập một tổ chức khác lấy tên là ” Balli Kombetar ”( tiếng An Ba Nha,viết tắt : BK). Từ đó, giống hệt như tình hình chính trị ở VN vào các năm 1945, hai phe CS và Quốc Gia An Ba Nha bắt đầu giết chóc lẫn nhau. Chẳng khác gì tình hình đang diễn ra ở Nam Tư lúc bấy giờ giữa phe CS của Tito và phe ”CETNIKS” của cựu quốc vương Mihajlovic.
Cuộc nội chiến Quốc –Cộng ở An Ba Nha chỉ là một hình thức ảnh hưởng giây chuyền của cuộc nội chiến ở Nam Tư, nên kém phần gay gắt, và không đẫm máu bằng Nam Tư. Đến năm 1943, quân phát xít Ý Đại Lợi bị loại ra khỏi cuộc chiến, quân Đức quốc xã thay thế Ý, chiếm đóng An Ba Nha. Nhưng ở An Ba Nha, quân Đức đã tỏ ra không tàn nhẫn, sắt máu bằng đối xử với dân Serbs ở Nam Tư . Quân Đức quốc xã cho phép người An Ba Nha được thành lập một hội đồng nhiếp chính cai trị toàn thể lãnh thổ. Quân Đức chỉ giới hạn vùng chiến đóng dọc bờ biển , và kiểm soát các trục lộ giao thông chính yếu trong toàn cõi An Ba Nha dẫn đến Hy Lạp.
Đầu năm 1944, tổ chức LNC bị thảm bại lớn lao. Lực lượng CS võ trang của Hoxha bị quân Đức bao vây chặt chẽ. Riêng cá nhân Hoxha đã may mắn được một đơn vị kháng chiến của Mehmet Shehu cứu thoát kịp thời. Được biết Mehmet Shehu lúc bấy giờ là một lãnh tụ anh hùng của giải phóng quân An Ba Nha, hoạt động rất hiệu quả trong công cuộc chiến đấu chống Đức quốc xã. Nhưng lực lượng LNC của CS An Ba Nha vẫn được Tito yểm trợ mạnh mẽ, lại thêm được chính phủ Anh tiếp tế quân dụng, và cung cấp võ khí dồi dào. Lúc bấy giờ Anh Quốc thi hành chính sách yểm trợ cho lực lượng cộng sản LNC để chống lại tổ chức BK của dân An Ba Nha, cũng như đã yểm trợ cho Tito, một lãnh tụ CS, để chống lại tổ chức Cetniks của cựu quốc vương Mihajlovic vậy!
Thực ra, lúc đó, người Anh đã không am tường sự khác biệt tế nhị giữa hai tổ chức BK của An Ba Nha với tổ chức Cetniks của Nam Tư. Trong khi tổ chức Cetniks của Nam Tư đã hợp tác với quân phát xít Ý và quốc xã Đức để chống lại hiểm họa CS do Tito rước vào, thì tổ chức BK của dân An Ba Nha hoàn toàn chống lại cả quân Ý lẫn quân Đức.
Nếu lúc bấy giờ người Anh sáng suốt yêm trợ cho lực lượng BK thì chắc chắn phe quốc gia An Ba Nha đã chiến thắng Cộng Sản dễ dàng. Dù vậy, ta cũng còn phải kể đến một yếu tố quan trọng khác đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào số phận dân tộc An Ba Nha là lực lượng quân sự CS của Tito ở Nam Tư lúc bấy giờ đã lên đến 150.000 tay súng, đều một lòng yểm trợ đồng chí Hoxha, và quyết tâm đưa đảng CS của Hoxha lên ngôi vị cầm quyền ở An Ba Nha.
Đến khoảng giữa năm 1944, quân Đức quốc xã bắt đầu rút khỏi vùng Ba Nhĩ Cán, cuộc nội chiến Quốc- Cộng ở An Ba Nha cũng bộc phát toàn bộ cách dữ dội. Hai phe : LNC của Cộng Sản và phe BK chống CS, gồm các lực lượng kháng chiến quân của cựu quốc vương Zog, bắt đầu tàn sát lẫn nhau trong tư thế sống còn , không đội trời chung! Nhưng cuối cùng, vào khoảng tháng Tám và tháng Chín, năm 1944, nhờ sự yểm trợ quân sự của Tito, quân CS An Ba Nha của đồng chí Hoxha đã chiếm được thủ đô Tirane( sau này gọi là: Tirana) cùng một lượt với nhiều thành phố quan trọng khác, thành lập nên chế độ ” dân chủ cộng hòa”, giống y hệt như cuộc chiến Quốc-Cộng ở VN vào khoảng các thập niên 40-50 …
AN BA NHA DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN.
Nhờ sự yểm trợ của Tito, đảng CS An Ba Nha đã chiếm được chính quyền, chẳng khác nào các nước Lỗ Ma Ní, Hung Gia Lợi, và Ba Lan đã nhờ Stalin mà nắm được quyền cai trị trong nước. Nhưng tất cả đều gặp phải trở ngại lớn lao là làm thế nào để một đảng độc tài nhỏ bé, không được quần chúng ủng hộ, có thể thiết lập nổi một guồng máy cai trị.
Lúc đó, năm 1944, đảng CS An Ba Nha mới có khoảng 2.000 đảng viên, nên đảng này đã phải bắt chước hành động của các nước CS đàn anh khác, trong số có cả Hung Gia Lợi và Ba Lan, bằng cách vừa dụ dỗ vừa cưỡng bách các đảng phái không CS khác tham gia vào một chính phủ liên hiệp, do đảng CS chỉ đạo. Sau đó đảng CS mới lần hồi ra tay thanh trừng các phần tử đối lập ngoan cố, không chịu tuân phục đường lối của CS, đồng thời hăm dọa, nếu tiếp tục chống đối mạnh sẽ nhờ lực lượng CS quốc tế can thiệp. Riêng trường hợp CS An Ba Nha chẳng những đã có sẵn cây dù CS Nam Tư lại còn thêm con ” ngáo ộp” Nga Sô và Stalin đứng sau lưng ngầm bảo trợ quyền cai trị trong nước.
Nhưng An Ba Nha lại không giống những nước CS Đông Aâu khác, không chịu đoàn kết xếp hàng sau lưng vị lãnh tụ đã được Moskova ủng hộ mạnh mẽ.
(còn tiếp 1 kỳ)
|