PHẦN 19.- NHỮNG MÁNH KHOÉ LÀM TIỀN VÀ CẤT GIẤU TIỀN CỦA BỌN THẦY CHÙA!
(tiếp theo phần 18) Sau ngày 30.4.75, nhân dân miền Nam được đảng CS miền Bắc ta vào ” giải phóng ” , sợ quá, bồng bế nhau cuống cuồng lao đầu ra biển cả, để tìm sinh lộ. Biến cố lịch sử khủng khiếp này đã đẻ ra phong trào ” boat people” , gây chấn động lương tâm nhân loại khắp thế giới, và trong dân gian VN đã truyền lại một tiêu ngữ ai oán não nùng :” Con ra đi, một là con nuôi cá, hai là con nuôi má, ba là má nuôi con ”...
Cùng theo chân đám thuyền nhân ấy, còn có các vị tu hành Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Dĩ nhiên, trong hàng ngũ tu sĩ cuả tôn giáo nào cũng vậy, gồm cả người tốt lẫn người xấu. Nhưng, trong thiên nhiên, kim cương, hồng ngọc vốn rất hiếm. Ngược lại, sỏi đá tràn đầy. Vậy, kẻ chân tu thường rất ít.Trái lại bọn lưu manh ” mượn danh đạo tạo danh đời”, đội lốt tu hành để được sống no nê phè phỡn, được bái lạy, thì nhan nhản. Bởi thế nên mới sinh ra chuyện" con sâu làm rầu nồi canh" !
Riêng phần Thiên Chúa Giáo, ai cũng biết vốn đã có giềng mối qui củ lâu đời cả hàng ngàn năm, lại thêm có hệ thống giáo qui, giáo quyền mạch lạc, và đời sống người tu sĩ trên thế giới được bảo đảm ấm no, nên không sanh lòng dựt giọc, lường gạt tín đồ, tranh cướp chuà chiền, như đại đa số tu sĩ Phật Giáo VN ngày nay, ở hải ngoại. Nguyên nhân bởi từ hàng trăm năm qua, Phật Giáo VN vốn không có tổ chức chặt chẽ, giáo qui, giáo quyền không minh bạch, kỷ luật lỏng lẻo, gần như bỏ ngỏ, từ 1954 đến nay đã bị bọn bất lương trà trộn, thao túng. Đại đa số bọn này đều xuất thân nghèo khổ, quê mùa, dốt nát, nên đã sớm trở thành một đại thảm hoạ cho giới Phật Giáo đồ VN.
Sau biến cố 30.4.75, hàng ngũ tăng sĩ VN ở hải ngoại bỗng trở nên đông đảo khác thường. Phần lớn vì dưới chế độ CS, mọi người trong cả nước đều đói, đâu còn đủ sức để nuôi báo cô thêm hạng người lười biếng, chuyên sống kiếp ký sinh trùng trên sức lao động, mồ hôi nước mắt cuả bá tánh đồng bào.Phần khác là những tăng ni , cán bộ CS nằm vùng, nay tiếp tục trà trộn ra hải ngoại để tiếp tục nghiệp vu.ï Bởi thế tăng giới hải ngoại ngày càng thêm hỗn loạn, trong cảnh cá đối bằng đầu, cá mè một lứa. Mỗi ông sư, một bà vãi trở thành một thứ đầu nậu băng đảng tội ác, mặc sức tung hoành, trổ đủ mọi thứ ngón nghề để trắng trợn dụ dỗ, cưỡng bách, xách nhiễu tình dục, lường gạt, trấn lột tiền bạc, tài sản cuả những tín đồ khờ khạo, nhẹ dạ, cả tin...
Thoạt tiên, khi mới đặt chân đến Âu, Mỹ, Gia Nã Đại hay Úc Châu, mấy ông sư, bà vãi thường khởi sự một cách rất khiêm nhường, bằng cách chiêu dụ PT mở một Niệm Phật Đường nho nhỏ, để tạo niềm tin trong giới Phật tử ở điạ phương. Sau một thời gian ngắn, họ mới bắt đầu ló cựa, kêu gọi bá tánh cúng dường, đóng góp tiền bạc ( không sổ sách, không biên lai, để trốn thuế, và dễ phủi tuột công ơn cuả mọi người), và cho vay không lãi, để xây cất chuà...
Đến đây vấn đề pháp lý và thủ tục hành chánh không khỏi phải đặt ra, theo luật định cuả các quốc gia Tây phương. Đại loại, các chuà phải thuộc quyền quản trị, và đặt dưới trách nhiệm cuả một hội đoàn tôn giáo có tư cách pháp nhân. Song thể thức lập hội chuà ở Âu Châu, như Pháp hay Đức , khác hẳn với Mỹ, Úc, và Gia Nã Đại ... Nếu ở Mỹ, giới PT rủ nhau lập ban quản trị hội, bầu ban chấp hành, xin phép nhà cầm quyền điạ phương, quyên tiền góp bạc mua đất, xây chuà, rồi rước sư hay vãi đến trụ trì, để lo về phần tế lễ, ma chay, cúng quảy chuyên môn; thì ngược lại, ở Pháp (và một số nước Âu Châu) luật lệ cho phép ông sư bà vãi trụ trì được quyền đứng tên chủ tịch ban trị sự hội chuà. Bên dưới chỉ cần vài PT thuộc loại ngoan ngoãn, gọi dạ bảo vâng, sẵn sàng chia chác, làm điều phi pháp, đứng tên chung là đủ!
Đối với người Âu-Mỹ, đa số lòng dạ ngay thẳng, ý thức trách nhiệm cao, các hình thức luật lệ này đủ bảo đảm tốt đẹp cho sự phát triển và sinh hoạt dân chủ cuả hội. Nhưng đối với cộng đồng VN tị nạn tạp nhạp, đa số đều thuộc loại một mặt hai lòng, ngoài miệng nói nhân nghĩa ngọt sớt, nhưng lòng dạ quay quắt, lúc nào cũng mưu toan những thủ đoạn cướp giật, bóc lột, lưà đảo, phản phúc, trộm cắp...Đối với những kẻ trí thức khoa bảng, thì mục tiêu bất lương cao hơn, kín đáo hơn một chút: lợi dụng Phật Giáo để dương danh, phô trương lòng nhân từ mộ đạo để che đậy những hành vi bỉ ổi trong cuộc sống bẩn thỉu hằng ngày, và nhất là hy vọng , với cấp bằng, tựa vào thế lực PG, để tiến thân trên con đường danh lợi, quyền chức sau này.
Tóm lại, nhìn một cách tổng quát, ta thấy đại đa số sư, vãi đội lốt tu hành, chỉ cốt để được hưởng thoả thuê những dục vọng bẩn thỉu, thấp hèn nhất cuả con người, mà tự thân họ không đủ khả năng tạo được bằng phương cách lương thiện. Còn những kẻ PT đi chuà, ra vẻ mộ đạo, cóm róm vái lạy bọn giặc thầy chuà, thực ra, một là ngu dốt, không biết kinh kệ, giáo lý, hai là có âm mưu lợi dụng gì đó. Thí dụ như đến chùa để rao hàng, mua bán thực phẩm, hột soàn, vòng vàng, mai mối, o mèo, kiếm vợ kiếm chồng, kể cả hẹn hò ngoại tình v.v... Như thế, nói gọn và thẳng cho dễ hiểu, ngày nay, ở hải ngoại, nhà chuà đã biến thành nơi buôn thần bán thánh, là diễn trường cuả những trò bỉ ổi nhất thế gian và qui tụ những phần tử bất lương, đạo đức giả nhất đời mà thôi. Không tin tôi, xin bạn cứ chịu khó đi chuà - mấy chùa lớn, hằng ngày kẻ ra người vào tấp nập, ở bất cứ nơi đâu! - vài lần sẽ nhận ra ngay!
NGUỒN TÀI LỢI CUẢ CÁC CHÙA
Bây giờ nói đến sự thu nhập cuả các chuà, dù ở Mỹ, Âu, Úc hay Gia Nã Đại cũng vậy, gồm 3 nguồn tài lợi chính, quan trọng, như sau: - Thùng phước sương: Thu hoạch rất ít. Có thể ít nhất so với các nguồn tài chính khác. Tối đa chừng 20% trong tổng số thu hoạch cuả chuà.Tại sao? Vì tiền bỏ vào thùng phước sương nhiều hay ít không ai biết. Nhất là ” thầy, cô” không biết, ban trị sự không biết. Trong khi đó tâm lý chung cuả những kẻ đến chuà cúng dường tam bảo lại muốn phô trương, với chủ đích bần tiện là muốn cho ” thầy, cô”, hay ít lắm ban trị sư (BTS)ï chuà phải biết đến lòng hảo tâm cuả mình! Tuỳ theo lệ cuả mỗi chuà, nhưng thường mỗi tam cá nguyệt, sư trụ trì và BTS hè nhau khui thùng phước sương một lần. Về hình thức, cũng bày ra đủ mặt giám sát, thủ qũi. Cuối cùng, dù được nhiều hay ít, người ta cũng chỉ bỏ tối đa chừng 10% vào qũi tu bổ và công ích trong chuà. Còn lại 90%, mặc nhiên người ta biểu đồng tình chia nhau tẩu tán phi tang ra ngoài.
Tại một vài quốc gia lớn rộng, đông đảo PT, có chùa lớn và một số Niệm Phật Đường (NPĐ) nho nhỏ thống thuộc, đã đẻ ra tệ trạng ”sư đầu nậu” loại Thích Như Điển, trụ trì chuà Viên Giác, ở Hannover, Đức Quốc. Mỗi kỳ hẹn,Thích Như Điển đánh một vòng đến các NPĐ trong phạm vi nước Đức , để ” thâu hụi chết”. Có lần trước mặt đông đảo PT ở NPĐ Munchen, Như Điển đã dám trơ trẽn hô to khẩu hiệu:” Thùng phước sương chia ba!”
Như thế có nghĩa: Một phần tiền trong thùng phước sương cuả NPĐ ấy phải trao cho Như Điển. Phần thứ hai, cho Đại Đức Từ Trí , sư trụ trì, bỏ túi xài riêng. Còn phần thứ ba thì dùng vào việc Phật sự, như mua nhang đèn, dầu mỡ, vật dụng cúng quảy linh tinh...
- Kế hoạch kinh tài: Có thể nói mà không sợ vu oan cho một ông sư, bà vãi nào ở hải ngoại ngày nay: Kẻ nào cũng đủ mánh mung và thủ đoạn kinh tài, để kiếm tiền bỏ túi, làm giàu. Chỉ chừng một năm sau đặt chân ở hải ngoại, bọn giặc thầy chùa đã bắt chước nhau rập khuôn, sư vãi nào, chùa nào cũng đua nhau tổ chức những bữa ăn từ thiện, với giá cắt cổ. Thí dụ:một bát chiết yêu bún chay, lễnh loãng toàn nước với vài cọng bún, và mấy miếng nấm nổi lều bều như những thằng chổng chết trôi, chỉ cần húp một hơi cạn sạch, giá vốn chừng 1 Đức Mã, Như Điển đã cho bán đến 5 ĐM !
Tổ chức những buổi trình diển ca nhạc kịch, vẫn núp dưới chiêu bài ” từ thiện” để khớp miệng các nghệ sĩ, và bóc lột công sức cuả những người giúp việc, nhưng lại bán vé thật đắt, với khẩu hiệu ”trước mua vui sau làm nghĩa”!
Tổ chức du ngoạn, bán vé Tombola, bán kinh sách, bán thực phẩm chay ( nhưng nếu PT nào muốn mua mắm nêm, hay nước mắm , cũng có người đem đến cung cấp tại chỗ!..). Viết đến đây, tôi chợt nhớ lại một hoạt cảnh đã diễn ra trước sân chùa Khánh Anh , ở Paris. Hôm ấy một chuyến xe búyt chở một số đông PT ở Đan Mạch đến viếng chùa. Có một vị cao niên, vô tình đã giở gói bánh mì thịt ra ăn trước sân chuà, liền bị nhà chuà sửa lưng, kêu ra ngoài đường ăn, và bảo rằng: ” Chuà là nơi thanh tịnh, không được đem đồ ăn mặn vào khuôn viên chùa!”. Rất hay!
Nhưng chẳng dè một lát sau, trước khi đoàn PT ” hành hương” này sắp sửa lên xe búyt ra đi, thì bỗng có một bà trong chùa te te chạy ra rao hàng:” Bà con đây có ai cần nước mắm, hay mắm nêm, lạp xưởng, hột vịt lộn, giò chả...,xin cho biết...Ở đây có sẵn, giá rẻ, bảo đảm thơm, ngon đặc biệt!…”. Vui thay!
Các khoản tiền lời do kế hoạch kinh tài như trên đem đến, kể ra rất lớn lao, quan trọng, nhưng không một chuà nào lập sổ sách chi thu minh bạch. Sư trụ trì toa rập với bọn tay sai ngoan ngoãn trong BTS hội chuà tìm mọi cách tẩu tán hết, cho vào túi riêng, để tránh khỏi khai báo thuế vụ...Lắm khi họ còn man khai là tổ chức bị thua lỗ!
- Cúng dường cho thầy: Đại đa số PT có tiền đến chùa, muốn cúng dường, thường cung kính, cóm róm, quì lạy rồi dúi thẳng vào tay ”thầy”. Trong khi đó, mặt ”thầy” vác lên, ngó đi chỗ khác, ra điều chẳng màng, nhưng mấy ngón tay cuả thầy lại đang mân mê xấp giấy bạc trong tay để thầm lượng định xem nhiều hay ít, rồi mới nhẹ nhàng, từ từ nhét vào túi.
Chứng kiến cảnh đó, là người bàng quan, bạn chỉ cần để ý nét mặt cuả thầy lúc bấy giờ cũng thừa đoán biết, người PT hảo tâm kia vưà mới ”cúng dường” cho thấy nhiều hay ít. Nếu vẻ mặt thầy tươi lên, và niềm nỡ mời mọc , chuyện trò với PT kia, tức là số tiền đáng giá. Ngược lại, nếu mặt thầy vẫn lạnh như tiền, hoặc kém vui và nói năng hờ hững, lạnh nhạt, tức số tiền chẳng đáng bao nhiêu...
Nơi đây, thiết tưởng tôi nên khắc họa cho rõ thêm khía cạnh đặc thù tâm lý đối với quần chúng PT, về tiền cúng dường của đám giặc thầy chùa từ xưa đến nay, bằng cách kể lại một giai thoại có đượm chút mùi vị tiếu lâm cay đắng như sau, để cho những người thừơng lai vãng chùa chiền suy nghĩ .Chuyện như sau: -" Có một bác nhà binh, ăn mặc xập xệ, vào viếng chùa. Nhà sư thấy dáng vẻ tầm thường, không thèm chào hỏi. Bác lính mới lên tiếng: - " Tôi xem chùa của sư trưởng đây , đã lâu không được tu sửa, thật quả tang thương. Xin đem sổ hóa duyên ra đây, để tôi cúng chùa ít nhiều."
Nhà sư mừng lắm, lập tức niềm nỡ mời trà, lời nói và cử chỉ trở nên cực kỳ cung kính. Lúc viết tiền cúng vào sổ, bác lính viết ngay ở hàng trên cùng, bốn chữ lớn:" Tổng Đốc Bộ Viên". Nhà sư ngờ rằng đây chính là quan đại thần của triều đình vi hành chăng, sợ hãi quì ngay xuống tận chân bác lính. Bác nhà binh viết tiếp dưới bốn chữ" Tổng Đốc Bộ Viên" mấy chữ nhỏ hơn"Tiêu Hạ Tả Doanh Quan Binh". Nhà sư thấy chỉ là lính trơn, lập tức đứng ngay dậy, vẻ mặt hầm hầm.
Bác lính lại viết tiếp"Hỉ Thi Tam Thập…" (hân hoan bố thí…ba mươi…). Nhà sư nghĩ có lẽ ba mươi lạng bạc, nên lại hớn hở ra mặt, quỳ ngay xuống. Đến khi bác lính viết tiếp" Văn Tiền"( đồng tiền) , thì nhà sư thấy ít quá, vội vàng đứng phắt ngay dậy, gấp sổ lại, mặt đỏ phừng phừng…
Rõ ràng: Lúc đầu không mặn mà, vì không có tiền. Sau lại rất tôn kính cũng bởi nghĩ có tiền. Quỳ lần thứ nhất, cũng bởi sự thế, quỳ lần sau bởi muốn điều lợi. Ngẫm bọn giặc thầy chùa, bà vãi ngày nay ở hải ngoại đều thế cả!"
Tóm lại, khoản tiền này lớn lao nhất , quan trọng nhất. Có thể lên đến trên 60% trong nguồn tài lợi chung. Nhưng, vì là tiền PT cúng dường cho thầy, nên đương nhiên thầy có quyền bỏ túi xài riêng, bao gái, ăn tiêu, mua sắm tư dụng..., không cần phải ghi vào sổ sách hay cho một ai biết hết thảy!
Theo nhận xét cuả tôi, đại đa số PT ở điạ phương thường cúng dường cho thầy bằng tiền mặt, còn gọi là tiền tươi. Những PT ở xa, thường gửi tiền bằng chi phiếu, hay Mandat... để cúng dường thầy. Những thứ chi phiếu này, thầy kị lắm, không bao giờ bỏ túi, đem ra xài, hay gửi vào ngân hàng. Vì nó có thể dễ dàng biến thành những chứng từ, khiến thầy bị ngọng với sở thuế. Tuy nhiên đời nào thầy chịu bỏ. Chó có từ cứt ,thầy mới từ của! Thầy lấy những tấm chi phiếu, hay mandat đó đổi lấy tiền mặt trong các tài khoản khác cuả chuà. Như thế gọn nhất và kín đáo nhất! Nên biết, những người cúng tiền mặt cho thầy kiểu này, đều không bao giờ thấy tên trong danh sách ” cúng dường ”đăng trên báo chùa. Còn những PT có tên trên báo, phần đông đã cúng dường cho chuà bằng chi phiếu, hay có ý đòi lấy biên lai, v.v...
CÁCH GIẤU TIỀN VÀ XÀI TIỀN CUẢ THẦY CHUÀ
Tuy không phải tốn một giọt mồ hôi nào, song các nguồn tài lợi khác nhau cứ uà nhau đổ vào túi thầy như nước vỡ bờ, khiến cho bọn giặc thầy chuà ở khắp nơi hải ngoại, dù dốt nát, lưu manh và nằm vùng nổi tiếng, vẫn trở nên mau chóng giàu có, tiền muôn bạc triệu rủng rỉnh. Tiền nhiều cũng là một mối bận tâm. Bận tâm hơn cả việc tụng kinh gõ mõ!
Bây giờ cất đống tiền ấy ở đâu? Để trong chuà, dù là trong phòng riêng, vẫn sợ mất. Vì nơi đó đã chẳng còn là ranh giới cấm kỵ đối với các nữ PT đủ loại lớn bùi bé mềm! Các chị sồn sồn, chồng làm ăn vất vả cả ngày, mệt nhoài, không còn sức đâu để thoả mãn ái ân, mượn cớ đi chuà để cắm sừng chồng trong phòng riêng cuả thầy, ai dám nghi ngờ tấm tiết hạnh khả phong?! Còn mấy chị em ta, gái tơ hơ hớ, thỉnh thoảng nổi cơn ngứa nghề, đến chuà, vào phòng riêng cuả thầy, để được thầy cấy chủng tử " trọc" vào bụng, cũng yên chí lớn, không sợ tai tiếng lộ ra ngoài, mai sau vẫn dễ ” mạ kền” cho láng để kiếm tấm chồng!..
Đống tiền lớn lao ấy, nếu thầy chuà bưng đi gửi ngân hàng thì chẳng khác nào nói với ông Thuế Vụ :” Lạy ông, con ở bụi này!” Vậy bây giờ tính sao?
Mấy người đàn bà công quả ở chuà mà ta thường lầm tưởng là những kẻ mộ đạo, đã tự nguyện hy sinh cuộc đời cho đạo pháp (sic!), thực ra, họ chính là những cánh tay nối dài cuả bọn giặc thầy chuà. Những người này sẵn sàng hiến kế giúp thầy cất giấu tiền bạc. Đa số lý lịch rất mờ ám và quá khứ cũng rất đáng nghi ngờ. Có khi thuộc loại me Tây, me Mỹ, me Chà Và Ấn Độ...
Xin kể một kinh nghiệm nhỏ mà vợ chồng tôi đã bất ngờ gặt hái được ở chuà Viên Giác ( chuà cũ). Lần ấy, vợ chồng tôi đến chuà, không kịp về ngay, phải ngủ lại một đêm. Vợ tôi nằm chung phòng với một bà, cánh tay mặt cuả Như Điển, xếp xòng cuả đám làm công quả trong chuà. Sáng hôm sau, vợ tôi thức dậy thật sớm, ra sân chùa tìm tôi, giưã lúc trời còn mờ hơi sương, kể chuyện cả đêm qua đã mất ngủ. Tôi tưởng vì lạ chỗ.
Nhưng không ngờ vợ tôi kể:
-” Cả đêm em không tài nào chợp mắt được, vì bà ấy , ngủ say, nói mớ kinh khủng quá. Hết chửi bới, rủa sả om sòm, bằng những lời đanh đá, tục tằn, tàn bạo kinh khiếp nhất,rồi bà lại nghiến răng, gào thét, quát tháo om sòm...Cứ như thế cả đêm...Em sợ quá!..”
Ngoài ra, nếu thầy chuà nào đã bắt nhân tình với những nữ PT thường lai vãng cửa chùa, thì hay gửi tiền cho ” các em” ấy cất giữ dùm.
Theo sự tìm hiểu cuả tôi, cho đến nay, tại Paris , ít lắm đã có đến hai ông sư trụ trì hai ngôi chùa lớn, từng bị nhân tình lường gạt, lấy mất nhiều tiền. Nơi đây, tôi chưa tiện hài đích danh các đương sư ấyï, nhưng vẫn có thể tóm lược các chuyện ấy như sau:
Thấy thầy có nhiều tiền, với tư cách nhân tình, nhân ngãi, em nỉ non dụ dỗ thầy nên bỏ tiền vào ngân hàng để kiếm lời. Thoạt tiên, mới nghe em nói, thầy ngần ngại. Vì lẽ: Lời ngân hàng mỗi năm chỉ có 6%, mà lại dễ bị sở thuế hỏi tội.
Nhưng, em đã đi guốc trong bụng cuả thầy rồi. Thầy vưà dốt, vưà quê một cục, mới từ một tỉnh nhỏ miền Trung, nơi chó ăn đá gà ăn sỏi, và con người thường phải ăn độn với ngô khoai, ra hải ngoại, lại không biết một tiếng Tây, tiếng Mỹ nào, nên dễ xỏ mũi lắm. Vì thế em vẫn không vội nản chí, tỉ tê đem những điều hay ho mới lạ, lợi lộc lớn lao ra thuyết phục thầy. Em kể chuyện những trương mục ký danh, và vô danh cuả một ngân hàng em từng quen biết thân mật từ ông giám đốc tới lao công đã lâu năm. Như thế, em bảo đảm sẽ kêu đích thân ông giám đốc ngân hàng đó giúp cho em mở một trương mục vô danh, với tiền lời cao đến 20%, và cứ mỗi ba tháng tính tiền lời một lần.
Nghe lời nhiều, anh thầy chuà nhà quê, dốt nát, động lòng tham, nhưng vẫn còn biết dè dặt. Lần đầu tiên thầy chỉ thử bỏ ra có nửa triệu thôi!
Tiền bỏ vào ngân hàng có giấy tờ chứng nhận cuả một ngân hàng lớn,với ấn dấu hợp lệ. Chẳng còn nghi ngờ gì vào đâu được! Vài tháng sau, thầy thử lấy tiền ra, em trao cho thầy đủ số, cộng thêm một số tiền lời ngon lành, đáng kể. Thấy vậy, thầy tin tưởng quá đi mất. Tiền giấu nhét trong các xó xỉnh, còn bao nhiêu thầy lôi ra hết, cùng với những khoản tiền cho thiên hạ vay mượn, thầy đòi về hết, để trao cho em đem gửi ngân hàng ăn lời.
Một thời gian sau, khi cô nàng nhận thấy thầy không còn tiền để gửi ngân hàng như xưa nữa, bèn tìm cách chuồn êm. Lúc đó, thầy bèn đem tất cả giấy tờ đến điạ chỉ ngân hàng, trực tiếp nói chuyện, mới vỡ lẽ ra, những giấy tờ ấy cũng như số trương mục đều giả mạo!…
Một trường hợp tương tợ khác, giấy tờ thật, số trương mục thật, nhưng lại do nữ PT, người yêu trộm dấu thầm cuả thầy đứng tên!
Trong cả hai trường hợp nêu trên, khi thầy chuà vỡ lẽ ra, đành chịu ngậm đắng nuốt cay, không thể nào thưa kiện vào đâu được.
Mấy cô nàng PT thuần thành này, sau khi vồ được món tiền lớn cuả mấy anh thầy chùa nhà quê, dại gái, một người đã ra mở siêu thị , buôn bán, làm giàu, ở ngay Paris. Một em khác, thuộc loại nạ giòng, đã bỏ đất Pháp chuồn về VN ở luôn, kiếm kép nhí , trẻ hơn đến trên 10 tuổi, làm chồng.
Cô nàng này, lúc còn ở Paris, vốn đã sống chung với một thằng bồ. Tên này bèn về VN, tìm kiếm. Hai người gặp nhau, lại giở thói tây đầm, âu yếm nói chuyện với nhau bằng tiếng tây, khiến tên kép nhí nổi máu ghen đâm chết cô nàng.
Vụ án mạng này, xảy ra vào khoảng năm 88 hay 89 gì đó, tôi nhớ không rõ. Các báo ở VN, và cả báo Pháp, cũng đã đăng tin. Song báo ở Pháp thì cho là người đàn bà đó đã bị CS giết. Còn báo VN thì loan tin ngược laị, cho rằng, tên kép nhí đã giết người yêu, ngoài lý do ghen tương, còn có mục đích cướp đoạt luôn số tiền lớn lao cuả người đàn bà này đã đem về !…
Sau mấy vụ lừa đảo tinh vi , chấn động dư luận kể trên, đám giặc thầy chuà đã sáng mắt ra. Từ đó về sau họ đã biết cách đem tiền sang Thụy Sĩ gửi trong những trương mục vô danh ( compte annonyme), hoặc mua cổ phần hay công khố phiếu v.v...
Bây giờ nói đến cách xài tiền của thầy chùa. Đây cũng phản ảnh một phần tâm lý của con người. Như mọi người thường đến chùa đều biết, đại đa số tăng, ni đều xuất thân từ chốn bần hàn, nguồn gốc mờ ám, lai lịch không rõ rệt, nên cách tính toán, xài tiền của họ cũng khác với người thường. Kẻ thì keo kiệt, bần tiện, vắt chày ra nước, có đồng nào cất giấu thật kỹ, để bỏ ngân hàng kiếm lời, hoặc đầu tư, mua cổ phần. Kẻ thì lo tậu mãi đất đai, mua sắm xe cộ, loại…" xịn", một hình thức thỏa mãn ước mơ đã in sâu trong tiềm thức!
Nhưng, dù thuộc hạng nào chăng nữa, dù keo kiệt bần tiện đến mấy chăng nữa, các thầy chùa vẫn mắc chứng bịnh chung của giới đàn ông là…"dại gái". Đối với các anh chàng thầy chùa dại gái, lắm khi cha mẹ, anh chị em ruột thịt, bị thiếu thốn, đói khát, bịnh hoạn ở quê nhà, cũng không được giúp một đồng xu. Nhưng ngược lại, cái món kia của nữ giới, mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã mô tả như "quả mít" ăn tiền rất dễ dàng. Em nữ tín đồ yêu dấu của thầy mà gọi điện thoại nũng nịu, òn ỷ vài câu, thì " bi nhiêu, bi nhiêu" thầy vẫn sẵn lòng hỉ hả mở hầu bao.
Ngoài chuyện Thích Huyền Vi thường dùng tiền của mấy bà già cúng chùa đem cho gái ăn, -Thích Hộ Giác cũng thế!-, tôi còn được nghe ( và hiện đang giữ trong tay) một cuộn băng thâu âm nguyên con mấy cuộc điện đàm giữa Thích Chơn Trí, trụ trì chùa Vạn Phước, ở Virginia, miền Đông HK, với nhân tình là nàng Bích Chi. Vừa nghe người tình nũng nịu, muốn đi coi đại nhạc hội, mà giá vé đắt quá, nếu mua cho cả nhà, tốn đến cả trăm MK, lập tức chàng Thích Chơn Trí liền trả lời giọng Từ Hải, hiên ngang nói với nàng Kiều:" Thôi, để anh lo cho!…Khỏi lo! Để đó anh lo cho!…"
Sau đó, cuộn băng này bị lọt ra ngoài, đã gây sóng gió dư luận dữ dội trong giới quần chúng khắp miền Đông HK, khiến Thích Chơn Trí đã phải bỏ chùa Vạn Phước ra đi, chạy sang miền Tây,ở vùng San Diego, Nam Cali, và cải pháp danh là Thích Nguyên Siêu, để tiếp tục "tu hành" như cũ!
(còn tiếp nhièu kỳ)
|