TRUYỆN KIỀU với thuyết ”TÀI MỆNH TƯƠNG ĐỐ”, triết lý ”THIÊN MỆNH” của Nho Gia, và giáo lý ”NHÂN QUẢ” với CHỮ”HIẾU” của đạo Phật [ 1/ 2 ].
* Đặng Văn Nhâm
THUYẾT ” TÀI MỆNH TƯƠNG ĐỐ ” VÀ TRIẾT LÝ” THIÊN MỆNH “.
Truyện Kiều là một kiệt tác bất hủ trong kho tàng văn chương của dân tộc Việt. Ngay từ khi mới ra đời, truyện Kiều đã đánh đổ quan niệm “ nôm na là cha mách qué “ của giới hủ nho bảo thủ , và khoa bảng thời bấy giờ ( cuối đời Lê sang Nguyễn , thế kỷ 18-19 ); đồng thời gây nên một phong trào ưa chuộng văn nôm rất sâu xa trong quảng đại quần chúng. Từ giai cấp sĩ phu phong lưu , tao nhã, đến giới bình dân lao động, ai cũng thích ngâm vịnh truyện Kiều. Thậm chí đến những người già nua, thất học, cũng học thuộc lòng năm ba câu Kiều để khi nhàn nhã đọc lên, ngâm nga cho sướng khoái tâm hồn.
Hơn thế nữa , dân chúng lại còn dùng truyện Kiều để bói toán, nói Kiều, ngâm Kiều, diễn Kiều và lẩy Kiều...Người ta nói, như thế ” văn chương truyện Kiều đã đi vào quần chúng ”. Nhưng tôi nói: ” Như thế , quần chúng đã thâm nhập vào truyện Kiều ”.
Thực ra, từ cổ chí kim chưa dân tộc nào có được áng thi văn tuyệt tác mà sức truyền cảm lại mãnh liệt và phổ quát đến như thế !
Ngay từ thuở truyện Kiều mới lưu hành trong dân gian, những thú tao nhã của một trang phong lưu nam tử thuần khiết Việt Nam đã được qui định trong một khuôn mẫu lý tưởng như sau : “ làm trai phải biết đánh tổ tôm, uống trà Chính Thái , ngâm nôm Thúy Kiều “. Ngược lại, kẻ làm trai VIỆT NAM nào mà...:” Làm trai không biết đánh tổ tôm, uống trà mạn mốc , dòm L...trẻ con”!!! Với một áng văn tuyệt tác , bất hủ như thế, dùng để gửi gắm tâm trạng mình, nhưng Nguyễn Du tiên sinh vẫn không khỏi phân vân , thắc mắc :
“ Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như “
( dịch : Không biết ba trăm năm sau, trong thiên hạ ai là người khóc Tố Như ).
Đến nay, đã ngót 300 năm qua, không biết có bao người trong thiên hạ đã khóc thương cho tâm sự bi ai , và thân phận éo le đầy nghịch cảnh của Tố Như tiên sinh, nhưng có một điều hi hữu mà chúng ta được chứng kiến là giá trị truyện Kiều chẳng những đã vượt thời gian lại vượt cả không gian . Bây giờ truyện Kiều đã được truyền bá khắp nơi trên thế giới qua những bản dịch bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đồng thời , truyện Kiều cũng lại còn làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực , qua các cuộc phê bình , tranh luận và nghiên cứu... Các nhà văn học, qua các thời đại, cũng đã hao tổn nhiều tâm lực , dụng công khảo sát truyện Kiều qua nhiều phương diện khác nhau, từ bố cục nội dung đến tình tứ nhân vật , giá trị văn chương , tài năng thi phú diễm tuyệt của tác giả, đến ảnh hưởng các triết thuyết của Nho gia, của Lão Tử, thuyết ” nhân quả ” và Chân Lý Giác Ngộ của Phật Giáo...Thật không thiếu một phương diện nào ! Đúng là đã phản ánh cả tư tưởng ” tam giáo đồng môn” trong truyện kiều.
Khi xưa , lúc còn ở quê nhà , suốt 20 năm trời sinh nhai bằng nghề “ gõ đầu trẻ “ , tôi đã có dịp đọc đi đọc lại, và giảng giải không biết bao nhiêu lần truyện Kiều cho lớp hậu sinh , mà chưa hề một lần cảm thấy nhàm chán. Quan sát lớp hậu sinh , tôi cũng nhận thấy như thế. Giờ cổ văn , với truyện Kiều , luôn luôn là những giây phút ngắn ngủi mà thầy trò cùng thưởng thức cách mê đắm, và dường như còn có phần nào hội nhập với các nhân vật đủ loại, đủ phường , đủ giai cấp, đủ mọi cá tính khắc biệt của truyện Kiều. Từ nhân vật chủ yếu là nàng Kiều “ hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh “ cho đến ả ca nhi Đạm Tiên “ nổi danh tài sắc một thì “, mà tôi đã cố công tìm kiếm suốt mấy chục năm trời vẫn chưa thể hình dung ra được con người mệnh bạc “ nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương “ ấy ra thế nào ? Phải chăng nàng đã chỉ hiện ra cho riêng Kiều , và họa chăng chỉ có nàng Kiều mới nhận ra được con người siêu linh, vì “ cùng người một hội một thuyền đâu xa “ !
Mặt khác, đối với các nhân vật nam giới , những người đàn ông đã đi qua đời nàng thiếu nữ tài hoa, từ thuở lòng nàng còn trinh trắng mới rung động biết yêu , cho đến những khi “ nhụy rữa hoa tàn “ , và “ sự đời đã tắt lửa lòng “ như: chàng Kim ,hay gã thổ quan vô danh tiểu tốt nào đó, chó ngáp phải ruồi, tôi cũng cảm thấy lòng mình rộn lên những nỗi niềm rung động sâu xa.
Như Kiều đã khóc Đạm Tiên và than vãn cho số kiếp hồng nhan “ sống làm vợ khắp người ta “. Lời than vãn này thực ra chính là lời oán thán cho thân phận mai sau của Kiều, mà tấm thân ngà ngọc của nàng sẽ bị dày vò qua bao nhiêu bàn tay ô trọc, võ phu, thô bỉ, hạ tiện, mà đích danh chúng ta có thể hình dung ra được gồm : Mã Giám Sinh , một kẻ đã có diễm phúc phá trinh Kiều lúc nàng còn trong trắng, một “ con ong đã tỏ đường đi lối về “ của một cơ thể mơn mởn “ dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên “ của Kiều , rồi đến anh chàng Sở Khanh, chuyện dụ dỗ đàn bà con gái lúc sa cơ. Tiếp theo đến lượt Thúc Sinh, một công tử , con nhà nền nếp, sợ vợ không ai bằng , nhưng vẫn thích ăn vụng của lạ . Đến Bạc Hạnh. Rồi đến phiên tướng cướp Từ Hải. Thực ra Từ Hải là một nhân vật cách mạng, nuôi tham vọng Bá Vương, võ trang nổi loạn, chống chánh quyền . Từ Hải là con người võ dõng “ vai năm tấc rộng , thân mười thước cao “.
Cuối cùng , trong thảm cảnh đổ vỡ tan tành, nàng Kiều lại rơi vào vòng tay đam mê tửu sắc của Hồ Tôn Hiến, một loại nhân vật mang nhiều tiêu biểu của giới quan chức trong triều đình thời bấy giøơ. Nhưng , chỉ sau cuộc ái ân hoan lạc ngắn ngủi với Kiều, Hồ Tôn Hiến chợt nghĩ đến thân phận, và địa vị hiện hữu của mình, đâm ra lo sợ “ quan trên trông xuống , người ta trông vào “, đành đem gán nàng vào tay một tên thổ quan vô danh tiểu tốt , để tránh tiếng thị phi . Thân phận nàng Kiều, xem ra chẳng khác nào như một món hàng chuyền tay khắp mọi hạng người trong thiên hạ.
Đứng trên phương diện số mệnh của một con người , khách quan mà xét, đời Kiều thật quá đỗi truân chuyên. Tài sắc song toàn mà hóa công lại nỡ ra tay vùi dập , cách tàn nhẫn , khắt khe, khiến cho lòng người , ai đọc truyện Kiều cũng không khỏi cám cảnh ngậm ngùi.
Tất cả những nỗi éo le , cay đắng của cuộc đời , cùng những nghịch cảnh trái ngang , đã xảy đến cho Kiều , đều được gán trách nhiệm cho một nhân vật có tính cách biểu tượng “ ÔNG TRỜI “, cùng với “ THUYẾT THIÊN MỆNH “, mà ngay trong mấy câu thơ mở đầu truyện Kiều , Tố Như tiên sinh đã nêu lên như một định lệ bất di dịch, một khuôn thước đóng khung chắc nịch, bất khả kháng biện là :
-” Trăm năm trong cõi người ta, chữ TÀI chữ MỆNH khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng !”
Hơn thế nữa , tiên sinh còn nói :
-” Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen “.
Ở đây, “ ÔNG TRỜI “ đã được mô tả như một nhân vật có đầy đủ trí giác và cảm tình gồm : thương , yêu, ghét, giận , hờn ... đang ngự trị trên một cung trời nào đó , có đặc quyền tối hậu phán xét tất cả chúng sanh , và điều khiển định đoạt mọi biến chuyển trong cuộc đời của mỗi một con người ở cõi thế gian ô trọc này !
Sau khi đã đày đọa Kiều suốt 15 năm trời, với biết bao nỗi đắng cay , tủi nhục , ê chề của một kiếp người con gái yếu đuối “ thanh lâu hai lượt , thanh y hai lần “ , trước khi kết thúc câu chuyện “ có thủy có chung “ , tác giả còn nhấn mạnh lại lần nữa “ NGẪM HAY MUÔN SỰ TẠI TRỜI “ , và khẳng định thêm rằng :
-” Trời kia đã bắt làm người có thân, Bắt phong trần , phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao “.
Như thế , theo Tố Như tiên sinh , con người sinh ra ở cõi Ta Bà Thế Giới này chỉ là công cụ của đấng Tạo Hóa, một nhân vật thiêng liêng , huyền bí nào đó, đóng vai chúa tể càn khôn , vũ trụ , cùng vạn vật . Còn nàng Kiều , với tấm nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn , với tài hoa siêu tuyệt , chỉ là một nạn nhân đáng thương hại của lòng ghen ghét, đố kỵ của lão trời già cay nghiệt ấy mà thôi !
Nếu thực sự , cuộc đời đúng như thế, và chỉ có thế thôi, thì thiết tưởng chúng ta cũng chẳng còn điều gì đáng bận tâm nữa. Bởi ngay từ thuở lọt lòng mẹ, mới cất tiếng khóc chào đời , con người đã hoàn toàn bất lực trước số mệnh của chính mình.” Bắt phong trần , phải phong trần, cho thanh cao, mới được phần thanh cao !” . Như thế, mọi hành vi THIỆN - ÁC, mọi cố gắng cải tiến , tu tâm dưỡng tánh , đều chỉ là vô nghĩa !
Nếu quả thật như vậy, thì cuộc đời con người còn gì vô nghĩa và vô luân cho bằng ?! Không ! Tố Như tiên sinh vốn là một nho gia thấm nhuần sâu xa tư tưởng Khổng - Lão- Phật ( tam giáo đồng môn ), tuy đã nêu lên “ thuyết định mệnh “ , nhưng không hoàn toàn tiêu cực, yếu đuối , và yếm thế, như một số người lầm tưởng . Chàng Kim đã có lần nói lên tinh thần phấn đấu của con người có ý thức bất khuất, chống lại sự đè nén nặng trĩu và bao la của thiên mệnh bằng câu : “ XƯA NAY NHÂN ĐỊNH THẮNG THIÊN CŨNG NHIỀU !”.
Hơn thế nữa, trong suốt 3254 câu thơ lục bát , diễn tả 15 năm trời luân lạc dài đằng đẵng của Kiều , có những lần Tố Như tiên sinh đã nêu lên một phương tiện giải thoát cứu cánh Niết Bàn , một hình thức thoát ly định mệnh tuy tiêu cực cho Kiều, nhưng vẫn bất thành . Đó là cửa Thiền và Phật pháp.
Tiểu thư rằng:”... Ý trong tờ, Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cưả Không. Thôi thì thôi cũng chiều lòng, Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra. Sẵn Quan Aâm Các vườn ta, Có cây trăm thước , có hoa bốn mùa. Có cổ thụ , có sơn hồ. Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.”... Đưa nàng đến trước Phật đường, Tam qui, ngũ giới cho nàng xuất gia. Aùo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.”
Nhưng con người muốn theo đuổi được con đường tu hành cần phải ngộ duyên. Nàng Kiều vốn chưa có duyên với cửa Thiền , nên chẳng bao lâu sau nàng đã lẻn trốn ra đi, tiếp tục dấn thân vào cõi bụi trần.
“Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trang tà về tây !”
Bởi thế , cổ nhân mới có câu :” THIÊN ĐƯỜNG HỮU LỘ VÔ NHÂN VẤN, ĐỊA NGỤC VÔ MÔN HỮU KHÁCH TẦM “ ! ( dịch : thiên đường có nẻo lên nhưng không ai hỏi tới, địa ngục không lối vào lại có khách đến viếng ).
QUẢ NGHIỆP BÁO NHÃN TIỀN .
Tại sao phương tiện giải thoát hữu hiệu khỏi bể trầm luân đã hiển lộ trước mắt mà Kiều vẫn còn bị mê mờ che lấp, khiến phải chịu thêm bao quả nghiệp đắng cay suốt mười mấy năm trời ? Tại sao lại có chuyện” Thiên đường hữu lộ vô nhân vấn, địa ngục vô môn hữu khách tầm “ như thế ? Và nhất là tại sao sư Tam Hợp đã phải thốt nên rằng :
“ Ma đưa lối quỉ đưa đường, Lại tìm những lối đoạn trường mà đi !”
Đến đây , để trả lời cho những câu hỏi trên, tôi thiết tưởng , chúng ta cần phải định tâm trong giây lát , và đồng thời đem giáo lý đấng Giác Ngộ quán chiếu vào các khía cạnh tư tưởng và hành động của Kiều , để nhận ra cái chân lý vĩnh cửu mà sư Tam Họp đã nêu lên:
“ Sư rằng phúc họa đạo trời, Cội nguồøn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta, Tu là cõi phúc , tình là dây oan.”
Lời sư Tam Hợp trích dẫn trên đây là một tia sáng mầu nhiệm đánh tan màn vô minh trong tư tưởng của Kiều , cũng như trong quan niệm của đa số thế nhân phàm tục “ cho hay muôn sự tại trời “, và “ rằng :”Hồng nhan tự ngàn xưa,cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”, hoặc giả hơn thế nữa người ta còn ta thán vu vơ:” Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung “!
Trong truyện Kiều chữ “ TRỜI “ của sư Tam Hợp hoàn toàn không đồng nghĩa chút nào với chữ “ TRỜI” của nàng Kiều, Là một Phật tử xuất gia, hơn ai hết sư Tam Hợp đã nhận thức được rằng Phật Giáo chính là một chân lý giác ngộ tối thượng, không phải là một triết thuyết siêu hình, cũng không phải là một tôn giáo mê tín dị đoan, tiêu cực, vô vi, hay có tính cách thiên khải như bất kỳ một tôn giáo nào khác đang thịnh hành trên quả địa cầu này. Phật Giáo không tạo ra một đấng Thượng Đế, không dựng lên một nhân vật thần linh, kỳ bí, có phép thần thông biến hóa, hô phong hoán vũ như con khỉ đột Tề Thiên Đại Thánh, hoặc có quyền uy tối thượng đả phán xét hay định đoạt số phận của các giới chúng sanh trong vũ trụ.
Như thế , Phật Giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng hay một sự sợ hãi vu vơ nào. “ VĂN-TƯ -TU “( có nghĩa: nghe, suy nghiệm , tu hành ) là ba hành động chân chính, tất yếu của một Phật tử . Trong lời dạy “ Văn- Tư- Tu “ của Phật Tổ còn cho thấy: những ai tin tưởng vào giáo lý Bồ Tát một cách mù quáng, ngu đần , không “ văn-tư -tu” tức là hành động ngược lại với bản hoài của chư Phật Tổ.
Bởi Phật Giáo phủ nhận triệt để sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, nên chữ “ TRỜI “ của sư Tam Hợp chẳng có nghĩa ẩn dụ một nhân vật biểu tượng nào, ngay cả đức Phật cũng không nốt . Vì chính đức Phật cũng chỉ là một thế nhân thường tình , được sinh ra đời trước đây trên 2.500 năm, có cha mẹ, anh em, vợ con như mọi phàm nhân khác. Lai lịch ấy chúng ta có thể kiểm chứng được qua các di tích lịch sử còn tồn tại. Đức Phật đã không tự “ Thánh hóa “ mình, và các đệ tử của ngài cũng đã không mất thì giờ để làm công việc “ trang trí “ cho ngài trở thành có vẻ siêu nhân, hay bịa cho ngài có một xuất xứ kỳ dị.
Hơn thế nữa , đức Phật còn dạy chúng sanh:” HÃY ẨN NÁU NƠI CHÍNH TA NHƯ MỘT HẢI ĐẢO, NHƯ CHỖ NƯƠNG TỰA, KHÔNG NÊN TÌM ẨN NÁU TỪ BÊN NGOÀI”. Đó là một giáo pháp cao thượng, dạy ta phải hoàn toàn tin cậy nơi ta , vì chỉ có ta chứng ngộ. Ngoài ra , trong kinh Pháp Cú còn có câu:” Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta. Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta. Không ai có thể làm người khác trở nên trong sạch “.
Vậy thì , với giáo lý Phật, chúng ta nhận thấy thuyết “ THIÊN MỆNH “, và thuyết “ TÀI MỆNH TƯƠNG ĐỐ “ chỉ là một thứ tà thuyết, một triết lý lãng mạn, mê hoặc lòng người phàm tục, khiến tâm tánh con người đã bị vô minh che lấp từ vô thỉ lại càng thêm tối tăm , mù quáng hơn. Căn cứ vào thuyết ấy, con người trở thành tiêu cực , vô luân, cứ buông thả tâm hồn cho tha hồ trôi lặn trong bờ mê bể khổ và tội ác. Bởi họ đã được bảo cho biết trước rằng : con người hoàn toàn bất lực trước quyền uy vô biên của Định Mệnh. Họ không biết rằng :” Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” và “Kiến tánh thành Phật “ !...
Đến đây , một nhận xét khác cần phải được nêu lên là : Sư Tam Hợp chỉ phát biểu quan điểm sau khi kiều đã trả hết nợ tiền oan nghiệp chướng do chính nàng phần nào đã tạo ra do lòng ái kết hay tham ái của nàng.Đó chính là nguyên nhân khổ ải, là sợi dây oan nghiệt trói buộc thân tâm nàng vào vòng nghiệp chướng luân hồi. Để chứng nghiệm chân lý giác ngộ tối thượng:” Tất cả chúng sanh đều mang theo cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa “ sư Tam Hợp còn nhận xét về Kiều như sau :
” Lại mang lấy một chữ tình, Khư khư mình buộc lấy mình vào trong “...
Và sư còn biết nhiều về tâm tánh Kiều hơn thế nữa , rằng :
“ Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng . Ma đưa lối , quỉ đưa đường, Lại tìm những lối đoạn trường mà đi...”
Vì bản chất Kiều như thế , nên chi sợi dây oan nghiệt vô hình cứ vướng vít mãi chung quanh :
“ Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết, một mình mình hay. Làm cho sống thác dọa đày ,”...
Đến đây chúng ta thử nhận xét lời phê phán của sư Tam Hợp về nàng Kiều, qua thuyết Nhân- Quả của Phật Giáo xem có thích hợp không ?
Tuy sư Tam Hợp không sống gần gũi với Kiều, nhưng ta thấy sự nhận xét của vị đệ tử Như Lai này rất chính xác và hoàn toàn hợp lý, khác hẳn với những lời tiên đoán vu vơ, mơ hồ của một bốc sư đẵ nói về Kiều : “ Anh hoa phát tiết ra ngoài, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa “, hay lời mộng triệu dị đoan của Đạm Tiên :” Số còn nặng nghiệp má đào...Mà sao trong sổ Đoạn Trường có tên “ v.v...Ta phải hiểu rằng trong cuộc đời thực tế làm gì có “ sổ đoạn trường “ nào ghi sẵn tên người con gái chơi bời. Chỉ có tên khi nàng đã tham gia mà thôi !
Sư Tam Hợp đã nêu đích danh cái nghiệp chướng đày đọa nàng Kiều là VÔ MINH ( avijja) và ÁI DỤC (tanha). ( Trong Thập Nhị Nhân duyên, giáo lý giảng về nguồn gốc của mọi sự khổ đau, phiền não và căn nguyên của vòng sanh tử luân hồi có đề cập).
Ngay từ thuở ban sơ, tâm hồn Kiều đã thấm nhuộm đầy ảo kiến, cho rằng “ Hồng nhan tự nghìn xưa,cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu !” , và hoàn toàn “ CHẤP NGÃ “ qua lời tiên đoán vu vơ của một bốc sư vô danh nào đó” Anh hoa phát tiết ra ngoài, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa “. Theo giáo pháp “ THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN “ , một công thức gồm trọn 12 vòng “ NHÂN “ và “QUẢ “ nối chặt vào nhau theo thể liên hoàn, khi con người bị mầm vô minh che lấp đương nhiên sẽ tạo ác nghiệp, và như trên đã nói, con người từ đó đã bị gắn liền vào cái nghiệp của mình giống như một con ốc sên phải kéo lê trên lưng cái vỏ nặng nề suốt đời cho đến khi sạch nghiệp. “ Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa “.
Đúng như thế ! Từ vô minh Kiều đã bị rơi và chìm sâu trong bể ái dục. Đây là 2 chướng nghiệp cực kỳ quan trọng trong Thập Nhị Nhân Duyên, tức là 12 động lực chính làm vận chuyển bánh xe luân hồi. Bởi ÁI DỤC duyên theo NHỤC DỤC , NGŨ TRẦN ( kama tanha) và phát triển rất tự nhiên từ trong tận cùng tủy não và cảm xúc của con người. Muốn chế ngự sự thèm khát của LỤC CĂN (ayatana) , gồm : nhãn( mắt) , nhĩ(tai), tỷ (mũi),thiệt (lưỡi), thân ( thân thể), ý (ý tưởng ), thật là cực kỳ khó khăn. Người đời không mấy ai làm được !
Để chứng minh điều này, chúng ta cần phải trở lại từ buổi đầu tiên gặp gỡ giữa Kiều và Kim Trọng trong tiết Thanh Minh. Dù lúc bấy giờ Kiều, con nhà gia giáo, còn ngây thơ trinh trắng, chưa biết trai là gì , thế mà lần đầu tiên khi mời gặp chàng Kim , lòng ÁI DUïC của Kiều đã nổi lên sùng sục!
“ Tình trong như đã mặt ngoài còn e “, và Kiều đã ngất ngư điêu đứng, đến nỗi để phát lộ ra ngoài lòng si đắm ái dục của mình
” Chập chờn cơn tỉnh cơn mê... Khách đà lên ngựa người còn nghé theo “.
Về đến nhà lòng ái dục đã hành hạ nàng đến nỗi lên cơn sốt tương tư , thậm chí đến phải than vãn phiền não:
” Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không ? Ngổn ngang trăm mối bên lòng...”.
Thời nay, nhất là ở hải ngoại, người con gái rất tự do luyến ái. Nhưng , tôi chưa từng được nghe một cô gái nào than thở tỏ tình với trai bằng câu “ Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không ?”. Họa chăng chỉ có vài chàng thanh niên bạo phổi !
Vì quá đau khổ tương tư, Kiều đã rơi vào tình rạng hôn trầm, rồi mơ gặp lại Đạm Tiên. Và sau khi đã khóc kể cho cha mẹ nghe về chuyện mộng mị , Kiều lại tiếp tục đau khổ, phiền não , vì ước mơ Kim Trọng “ Chưa xong điều nghĩ đã đào mạch tương “.
Chẳng bao lâu sau, Kim Trọng tìm đến trọ nhà lân cận và dĩ nhiên Kiều đã lén lút tư tình , gắn bó với Kim Trọng ngoài vườn cách vô cùng nhanh chóng. ” Đã lòng quân tử đa mang, Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung ”.
Những câu mà Kiều đã nói khi tự tiện gần gũi với Kim Trọng như ” Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha” chẳng qua chỉ là những câu nói màu mè, tô điểm cho cái vẻ khuê các , lễ giáo mà thôi, chứ không phải là những lời tuyên bố có giá trị định đoạt thực sự . Một sự kiện hiển nhiên đã chứng minh ngay sau đó là dịp sinh nhật ngoại gia, song thân và hai em vắng nhà, Kiều đã để lòng say đắm ái dục sai sử, bất chấp mọi khuôn phép gia phong, lễ giáo, tức tốc lẻn sang nhà Kim Trọng để tình tự trăng hoa.
” Xắn tay mở khóa động đào, Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai ”.
Thế rồi Kiều đã ở lại trọn đêm bên nhà Kim Trọng thề thốt gắn bó, tình tự lãng mạn ” Tiên thề cùng thảo một chương, Tóc mây một món dao vàng chia đôi ”...
Suốt đêm hôm ấy, tuy Kiều đã không để cho Kim Trọng làm ” con ong đã tỏ đường đi lối về”, tức chưa thưởng thức được cái trinh bạch trong thân thể của người con gái mới biết yêu lần đầu, thực ra chẳng phải vì nàng đã kềm chế nổi ngọn lửa dục tình đã bốc lên ngùn ngụt như hỏa diệm sơn , nhưng chỉ vì nàng muốn dành cái giây phút đầu tiên cực kỳ hoan lạc ngất ngư ấy cho ngày lễ hợp hôn mà thôi. Khi đó , nàng sẽ tha hồ tận hưởng tất cả những cảm giác đê mê, ngây ngất của tình dục, những sướng khoái vô cùng da diết của xác thịt mà nàng vừa được nếm mùi. Sự hưởng thụ ấy, lúc đó sẽ hoàn toàn tuyệt diệu, không xen lẫn chút bợn ưu tư. lo lắng , phập phồng nào .
Đây , ta hãy nghe Nguyễn Du mô tả :
”Hoa hương càng tỏ thức hồng, Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu, Sóng tình dường đã siêu siêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi...”
Và trước hành động đòi hỏi sinh lý cấp bách của Kim Trọng lúc bấy giờ, nàng đã dỗ dành, hứa hẹn sẽ thỏa mãn khi cơ hội tốt đến
” Vội chi liễu ép hoa nài, Còn thân ắt hẳn đền bồi có khi !”.
Cảm giác khoái trá khi đọc truyện Kiều dôi khi vẫn chợt cảm thấy ở những đoạn như thế này. Bởi nó rất thực và nhất là rất ” NGƯỜI ”, tức là rẫy đầy nghiệp chướng si mê, ái dục. Trong thời lễ giáo phong kiến khắt khe ( t.k. 18-19) mà Kiều đã dám hành động như thế thật là vô cùng táo bạo. Điều ấy chứng tỏ rõ rệt Kiều là một người con gái cực kỳ lãng mạn và rất liều lĩnh, dám phiêu lưu hưởng thụ sướng khoái nhục dục trên địa hạt tình trường.
Theo giáo lý Bồ Tát, con người gieo nhân nào sẽ đương nhiên gặt quả ấy, chẳng khác nào nhà nông gieo giống thóc sẽ gặt lúa. Người gieo nhân thiện sẽ gặt quả tốt, người gieo nhân ác sẽ gặt quả xấu. Biết đâu sự vu khống của thằng Bán Tơ vô danh tiểu tốt nào đó, khiến Vương Ông mang họa , chẳng phải là một hành động ghen tức ngấm ngầm, một phản ứng của một kẻ si tình trong số những kẻ mà Kiều đã khinh thị liệt vào hạng ” ONG BƯỚM ” . Trong Kiều có câu :” Tường Đông ong bướm đi về mặc ai ” chứng tỏ nàng Kiều thuở còn trinh trắng cũng đã ” ăn khách ” lắm. Chung quanh nàng lúc nào vây bọc ong bướm dập dìu.
Nhưng dù sao thì nghiệp quả của lòng ái dục ấy cũng đã phát lộ rõ rệt nhất , hùng biện nhất và cụ thể hơn hết, khi Kiều đã tỏ ra quá dễ dàng trao ngay cái món ” ngàn vàng ” của mình cho tên Mã Giám Sinh, là một kẻ mà chỉ cần đọc qua mấy câu thơ phác họa nhân dạng sau đây chúng ta đã hình dung ra hắn loại người đáng lợm giọng rồi :” Quá niên trạc ngoại tứ tuần, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao...Ghế trê ngồi tót sỗ sàng, ...Cò kè bớt một thêm hai...”.
Nhưng ta lại càng không khỏi ngạc nhiên hơn nữa, khi thấy Kiều vốn là một trang thiếu nữ thông minh , tài sắc tuyệt vời lại mù quáng nghe lời dụ dỗ rất kệch cỡm , quê mùa của gã Sở Khanh, vốn là một kẻ vô loại, thất học , lưu manh nổi tiếng trong chốn giang hồ. Đây , chúng ta hãy nghe Tiên Điền mô tả về nhân dạng của Sở Khanh:
”Một chàng vừa trạc thanh xuân, Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng. Nghĩ rằng cũng mạch thư hương , Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.”...
(còn tiếp một kỳ)
|